Đặc San Xuân 2018
Tay trắng làm nên sự nghiệp
Hoàng Sơn Long

Nguyễn Tấn Đời từ hai bàn tay trắng làm nên sự nghiệp giàu có vào thập niên 60 và 70 là một chuyện có thật, một nhân vật thời đại được dư luận cũng như báo chí nói đến về sự thành công của một người từ con số không vươn lên con số nghìn triệu đồng trong các ngân hàng, cùng với những cao ốc trị giá trăm triệu. Nguồn tin cho rằng ông xuất thân từ giai cấp nông dân, nhà nghèo ít học hay đi chăn bò cho ông Nguyễn Ngọc Thơ tỉnh trưởng Long Xuyên là điều không đúng. Ông sinh năm 1922 theo âm lịch ông tuổi Quí Hợi sinh ngày 16 tháng 12 giờ Ngọ, Mệnh Vô Chính Diệu tại làng Bình Hòa, Quận Châu thành tỉnh Long Xuyên. Ông nội của ông là người có ruộng vườn, từ nhỏ ông được gia đình cho ăn học đàng hoàng ở tỉnh thành, lớn lên ông thích sống tự lập không theo làm ruộng rẫy như những thanh niên trong làng. Thầy xem tướng bảo ông có tướng làm ông chủ, ông có gương mặt sáng, mắt to và tròn, tai lớn, trán cao, chân mày rậm, mũi cao và thẳng, nước da bánh mật. Nhìn thoáng thấy ông có dạng hơi lai người Ấn.

Ở tuổi thanh niên với bản tính thích phiêu lưu, mạo hiểm, ông rời làng quê đi tìm một lối sống riêng cho mình, lúc đó có nhiều người Việt Nam qua Miên làm ăn sinh sống, họ bảo sang đất Miên dễ sống và có nhiều cơ hội làm giàu, người Miên tương đối thật thà và chất phác hơn người Việt về một vài phương diện nào đó. Từ Long Xuyên ông lên xe đò (xe khách) đi Nam Vang thủ đô của Miên để tìm việc làm. Biên giới Miên Việt qua lại dễ dàng, bởi vì ba nước Việt Miên Lào thuộc liên bang Đông Dương do người Pháp cai trị. Người Việt sang Miên sống không cần biết tiếng Miên, nói được tiếng Pháp tiếng Tàu, tiếng Việt cũng có việc làm cho họ, Ông Đời nói và viết được tiếng Pháp nên ông có việc làm ngay trong công ty xuất nhập cảng của người Pháp. Nền kinh tế của Miên vào thời đó do người Pháp, người Trung Hoa và người Việt nắm hết nhất là tại thủ đô Nam Vang (Phnom Penh).

Trên đất Miên có dịp cho ông học hỏi kinh nghiệm làm giàu của người Trung Hoa và người Pháp, ông thấy làm việc văn phòng tuy nhàn hạ tấm thân nhưng không khá được, ông nhảy ra tập làm ăn buôn bán chỉ có làm thương mại mới có cơ hội trở nên giàu có. Không vốn liếng ông khởi nghiệp làm nghề môi giới và buôn bán trao đổi tiền Pháp, chính công việc nầy đã đem lại cho ông nhiều lợi nhuận, có tiền ông sắm xe hơi và ăn chơi như một công tử. Tuy nhiên công việc làm ăn của ông gặp thất bại vì thời cuộc ông bị lỗ nặng mất hết tiền bạc phải bán xe bán cả quần áo, ông trở lại bàn tay trắng như lúc mới qua Miên, ông lang thang trở về vùng biên giới Miên Việt sống nhờ vào những buổi Chợ Trời biên giới. Biên giới Việt Miên có chiều dài hàng trăm km, với 12 cửa khẩu qua lại chính, ngoài ra còn có những vùng không thông lộ xe, người dân qua lại bằng cách băng qua đồng ruộng hay xuyên rừng cây. Hai cửa khẩu có chợ phiên cho thương buôn là Chợ Trời Gò Dầu Hạ (Tây Ninh) và Chợ Trời Thường Phước Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp (Kiến Phong), chợ Thường Phước thuận tiện cho 2 mặt trên bộ và dưới sông. Ngoài ra còn Chợ Trời Tinh Biên tỉnh Châu Đốc khá nhộn nhịp, thương buôn Việt hay du khách muốn đi Chợ Trời biên giới phải qua chợ Châu Đốc rồi vào chợ Tịnh Biên bằng quốc lộ số 2 đến bờ kinh Vĩnh Tế rẽ tay trái vài chục thước đến bến đò tại đây có trạm kiểm soát trình giấy tờ qua đò đi theo con lộ độ 2 km đến biên giới Việt Miên tại đây có cổng chắn ngang đường có trạm gác. Qua khỏi cổng là đất Miên, đi một đoạn độ 600 thước có một đồn Miên tiếp tục đi thêm 1 km đến thị trấn Tam Lập tiếng Miên là Tonléap thuộc phần lãnh thổ Miên.

Chợ Trời biên giới đúng như tên gọi: Chợ nhóm họp ngoài Trời không hàng quán phố xá nên gọi Chợ Trời, địa điểm ở cạnh biên giới 2 quốc gia. Chợ Trời biên giới là một nơi phức tạp do hoàn cảnh địa lý và những người sinh sống chung quanh, một nơi qui tụ nhiều khách giang hồ tứ xứ. Ông Đời chọn nơi đây sống tạm một thời gian để chờ cơ hội bung ra, hơn nữa ở đây đi về quê cũng thuận tiện đường xe, lên xe đò đi chừng 3 tiếng là tới nhà lộ trình không quá 100 km nhưng xe chạy chậm và thường rước khách dọc đường. Chợ Trời Tịnh Biên nằm ngay cổng biên giới, kề bên quốc lộ, chợ nhóm họp trên gò đất cao trống trải các thương buôn từ hai chợ Tịnh Biên và Tam Lập đi bằng xe lôi hay xe gắn máy, cứ tờ mờ sáng hai đoàn người từ hai phía đến trao đổi hàng hóa với nhau. Hàng ở Chợ Trời Tịnh Biên, được người Việt hoan nghênh như đường Thốt Lốt, đường Thái Lan, khô cá biển hồ, vải sồ, thuốc lá và nhiều thứ Việt Nam không nhập cảng nhưng bên Miên có, người Miên mua lại sản phẩm của ta, ở đây người ta có thể buôn những mặt hàng quốc cấm như súng đạn và ma túy. Một mặt hàng người Miên không làm là hàng sống như trâu, bò và heo. Ông Đời mua trâu bò trên đất Miên và đưa qua bán cho lái buôn Việt, loại trâu bò nầy không biết cày chỉ để làm thịt. Đồng ruộng bên Miên bạt ngàn thêm rừng núi dầy đặc một địa thế thuận lợi cho việc chăn nuôi, trâu bò bên Miên con nào cũng no tròn mập ú. Ở Việt đến mùa nước nổi phải làm chuồng cao hơn mặt nước mỗi ngày phải cắt cỏ cho trâu bò ăn, nên nhiều nhà nông khi đến mùa nước họ lùa trâu bò qua đất Miên và nhờ dân bản xứ nuôi hộ vài ba tháng, việc nầy phải trả tiền công nhưng tính ra còn lợi hơn cất chuồng để nuôi trâu bò. Khi nước rút, người dân qua Miên lùa bò về, người nào có tiền mang theo qua Miên mua bò đem về bán lại có lời. Một công hai chuyện, bò Miên không có giấy Chứng Thư Nguyên Xứ như trâu bò Việt Nam, muốn mang trâu bò từ Miên về Việt Nam phải đến Quận đường xin giấy Chứng Thư, việc xin giấy tờ dễ dàng chỉ cần đóng tiền cho Quận là xong khi trâu bò được lùa qua biên giới, người kiểm ty súc vật đóng một dấu sắt nung đỏ vào mông bò mà không cần hỏi nó xuất xứ nơi đâu. Ở Việt Nam mỗi con vật có một cái thẻ nhận dạng ghi màu lông, số tuổi, bao nhiêu xoáy trên mình và được đặt tên.

Vùng biên giới Miên Việt tuy phức tạp nhưng biết cách cũng kiếm được tiền, tiền ở đây đôi khi phải trả giá bằng máu, nó không đơn thuần như mặt ngoài người ta thấy. Sáng sớm thương buôn từ chợ Tịnh Biên qua đò kinh Vĩnh Tế lên xe kéo đến Chợ Trời biên giới trao đổi hàng hóa đến trưa tan chợ họ trở về, bạn hàng đã chờ sẵn bên bờ kinh để mua đem đi bán các cho các chợ khác đó là các loại hàng thông dụng giá tiền lên xuống không nhất định có lúc kiếm được lời, đôi khi phải bán lỗ để lấy tiền vốn. Nhưng đối với những mặt hàng quốc cấm thuốc tây, thuốc hút, á phiện…, con buôn phải tìm đường tránh lính tuần cả hai phía, những mặt hàng nầy vốn một lời đôi ba, những tay chuyển hàng là người Miên họ biết chỗ nào đi được: đi ngang về tắt, họ thường thay đổi lộ trình không đi mãi một lối mòn sợ bị phục kích. Phía Việt Nam nếu bắt được chỉ tich thu và bắt giam người, nhưng phía người Miên, họ tịch thu hàng và giết người, đôi khi họ vượt biên cướp của bắt cóc người Việt đòi chuộc tiền.

Nguyễn Tấn Đời sống ở vùng biên giới Miên Việt thấy việc mua bán trâu bò từ Miên sang Việt Nam sinh lợi nhiều, những đàn bò năm bảy chục con lùa qua biên giới giống như những đàn bò ở Texas trong các phim Cao bồi. Lúc đầu ông thu mua bên Miên rồi bán lại cho các lái buôn người Việt hay người Việt gốc Hoa, thời gian sau ông suy nghĩ tại sao mình không mua từ bên Miên rồi chở chúng lên Sài Gòn bán thẳng cho các lò làm thịt, như vậy tiền lời nhiều gấp đôi gấp ba lần. Ông Đời tìm vài người Miên huấn luyện cách mua bò trên Miên làm thế công việc cho ông. Phần ông rút về Châu Đốc liên lạc với chánh quyền xin giấy Chứng Thư cho những đàn bò của ông, công việc làm ăn của ông đang khá lên. Đầu năm 1953 tỉnh Châu Đốc cho mở chợ phiên trâu bò tại chân núi Sam mỗi tháng 3 lần vào các ngày 10, 20, 30 từ chợ phiên nầy nhiều tay lái buôn đến mua trâu bò dễ dàng sinh ra cạnh tranh nâng giá cao thấp mua nhiều hay ít, Nguyễn Tấn Đời như con thoi từ Châu Đốc đi Sài Gòn rồi quay về có đôi khi ông phải kẹt lại Sài Gòn đôi hôm để chờ nhận tiền. Sài Gòn thật sự là Hòn Ngọc Viễn Đông muốn gì cũng có. Sau Hiệp định Genève chia đôi đất nước Sài Gòn trở thành thủ đô của Miền Nam Việt Nam và bắt đầu trở mình, việc buôn bán làm ăn ở Sài Gòn trở nên nhộn nhịp, nhưng các ngành nghề thương mại đều do người Hoa nắm có thể nói kinh tế miền Nam do các tay Xì Thẩu kiểm soát, giá cả hàng hóa lên xuống đều do họ quyết định. Chánh phủ Ngô Đình Diệm phải ra sắc lệnh cấm người Hoa hành 11 nghề để hạn chế họ đầu cơ.

Nguyễn Tấn Đời thấy đất Sài Gòn là nơi có cơ hội làm giàu, ông bỏ hẳn nghề làm lái bò, gom vốn lại chuẩn bị làm ăn ở Sài Gòn. Trong khi chưa có gì chắc chắn ông Đời làm môi giới trong các công trình xây dựng và các loại hàng vải, người dân Sài Gòn bắt đầu tu sửa nhà cửa, một số nhà mới xây không lót gạch tàu, một loại gạch 2 tấc vuông màu đỏ trông không đẹp. Người ta dùng loại gạch bông loại gạch tân thời có hoa văn màu trên bề mặt lại nhỏ hơn gạch tàu, lót sàn nhà trông rất đẹp và bền lại trơn láng, nếu được lau chùi thường xuyên nó trở nên bóng lọng. Ông Đời quyết định mở hãng sản xuất làm gạch bông, xưởng làm gạch của ông đặt tại số 321 bến Bình Đông Chợ Lớn. Trước khi mở hãng ông bỏ thời gian tìm hiểu nghề làm gạch, từ kỹ thuật cho đến công việc sản xuất. Lúc ở trên Miên ông đã thấy người Hoa làm xưởng gạch bông nguyên liệu làm gạch duy nhất là xi măng và bột màu, máy ép gạch bằng sức ép hơi nước. Gạch bông có xuất xứ từ nước Pháp vào năm 1920 gạch bông trở thành món hàng thông dụng trong việc lót sàn nhà vì tính chất bền và đẹp. Ngay tại Sài Gòn và Chợ Lớn đã có mấy hãng làm gạch, ông lập xưởng gạch lấy tên “Đời Tân” Đời có thể tên ông và cũng có thể hiểu là Kiểu mẫu Tân thời rõ ràng là mới lạ, như vậy gạch Đời Tân là loại gạch kiểu mới. Muốn được vậy ông phải cho ra một loại gạch có mẫu mã mới, đa dạng về màu sắc, những hình hoa văn trên gạch phải đẹp và mỹ thuật, viên gạch phải có chất lượng bền bỉ, giá tiền phải thấp hơn những loại gạch khác, như vậy gạch Đời Tân mới đứng vững trên thị trường.

Ông Nguyễn Tấn Đời đã bỏ hết tâm huyết vào xưởng gạch, từ một xưởng gạch nhỏ 5 máy ép làm gạch, ông khuếch trương lên cả trăm máy, nhân công trên trăm người. Thợ chánh của ông vốn là người Hoa gốc Triều Châu từ Nam Vang về Việt Nam giúp ông, bên cạnh còn có vợ con phụ giúp. Ông ra ngoài khuyến mãi các mặt hàng, đôi khi ông phải đi lót gạch cho người mua gạch, ông biết xem trọng khách hàng, một yếu tố để thành công trên thương trường. Theo ông nhận thấy trong kỹ nghệ sản xuất muốn thành công ngoài tiền vốn, máy móc và nguyên liệu phải tốt, người làm chủ phải có sáng kiến canh tân và chuyên môn trong nghề phải cao. Từ những suy nghĩ cơ bản ông quyết định xuất ngoại tìm hiểu những kỹ thuật làm gạch. Nguyễn Tấn Đời xin đi Pháp, ông đến vùng Guillon Barthelemy để trao đổi nghề nghiệp. Người Tây Phương không giấu nghề như người Á Châu nên ông học được nhiều điều mới đem về áp dụng cho hãng gạch. Công việc làm ăn của ông phất lên như diều gặp gió.

Khi xưởng gạch đã lên quĩ đạo, ông không dừng lại trong vai trò chủ nhân một hãng gạch bông. Ông mở rộng kinh doanh sang những ngành nghề khác theo thứ tự thời gian như: dịch vụ chuyển ngân Sài Gòn-Paris-Hong Kong, nhập cảng lưới cá từ Nhật, xuất cảng gạo tấm sang Hong Kong và Singapour, lập công ty quảng cáo vẽ bảng hiệu và cắm bảng hiệu cho thuê, lập công ty Cửu Long Film làm phụ đề cho thuê, mua tàu đánh và công ty đông lạnh, làm chủ nhiệm nhật báo Việt Nam Thời Báo và tập san Phòng Thương Mại Sài gòn. Có thể nói thời gian nầy tiền bạc cứ đua nhau chạy vô nhà của ông. Năm 1953 ông mua đất xây cao ốc cao 6 tầng, tầng dưới làm nhà hàng Mai Loan, những tầng khác là phòng cho thuê có tất cả 125 phòng trên đường Trương Công Định, khách thuê phòng của ông đa số độc thân như: các ca, nhạc sĩ phòng trà, các phóng viên nhà báo, nhà văn... Hai năm sau ông lại xây cao ốc Tân Lộc chỉ có 90 phòng, cao 5 tầng, nhưng thuộc loại sang trên đường Lê Thánh Tôn. Năm 1956 xây cao ốc Victoria trên đường Trấn Hưng Đạo gồm 240 phòng. Năm 1960 xây President Hotel cũng trên đường Trần Hưng Đạo hướng gần Sài Gòn gồm 1,200 phòng. Ông Đời có tầm nhìn rất xa đầu tư vào địa ốc là một công việc kinh doanh đem lại lợi nhuận và không bao giờ thất bại, cao ốc ông xây lên có người thuê mướn ngay nhất là với người Mỹ một lợi nhuận rất cao. Sài Gòn có nhiều công việc cho người làm, người Pháp rời Việt Nam một số đồn điền loại nhỏ của người Pháp phải bán, ông Đời xem cái nào rẻ ông bỏ tiền mua ngay. Người Mỹ chi tiền rộng rãi hơn người Pháp, các quán bar, quán nhậu, phòng trà ca nhạc đèn màu mọc lên khắp nơi, thành phố Sài Gòn trở nên rộn rịp, người dân có tiền cũng biết tiêu xài.

Nguyễn Tấn Đời, một người nhìn đâu cũng thấy tiền, những đống phế liệu của Mỹ chất cao như núi bỏ không, nhưng với ông nó là tiền là vàng, ông tìm cách mua nó với giá thật rẻ, quân đội Mỹ cần dọn dẹp những phế liệu nầy nhưng chưa giải quyết được nay có người mua nó và hứa dọn sạch thôi thì giao cho Nguyễn Tấn Đời giải quyết. Hãng Vidico làm dây điện đang thua lỗ gần như phá sản, ông Đời nhảy vô mua nó, những phế liệu bằng đồng của Mỹ được đem nấu lại đem chế biến thành dây điện. Hãng Vidico qua tay Nguyễn Tấn Đời lại làm ăn khá lên, có người hỏi tại sao? Nguyễn Tấn Đời có phù phép thổi nó lên? Người có đầu óc kinh doanh khác hơn người thường, cách làm ăn của họ lúc nào cũng có tính toán, người xưa nói “Phi thương bất phú”.

Tín Nghĩa Ngân Hàng

Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ cường độ chiến tranh gia tăng, người Mỹ đổ quân vô Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam phát triển nhờ Mỹ viện trợ. Trong việc buôn bán trao đổi với nhau bằng tiền mặt với số lượng tiền khá lớn rất bất tiện. Ngân hàng là một tổ chức trung gian về tài chánh, nơi người ta gởi tiền mặt hay tín phiếu vào ngân hàng và có thể lấy tiền mặt bất cứ lúc nào rất tiện dụng kể cả việc phát tín phiếu để người khác trao đổi tiền bạc. Ở Sài Gòn ít người biết Nguyễn Tấn Đời là ai, chỉ nghe hãng làm gạch bông hiệu Đời Tân hoạt động mạnh, nhưng về sau người Sài Gòn gọi ông là vua cao ốc chuyên cho Mỹ thuê. Lúc nầy ông có rất nhiều tiền. Năm 1965 một số thương gia Việt Nam đứng ra xin phép thành lập Tín Nghĩa Ngân Hàng nhưng không đủ vốn qui định là 20 triệu, vì vậy họ mời Nguyễn Tấn Đời tham gia với vai trò Quản Trị Viên. Ông không có kinh nghiêm và hiểu biết về ngành ngân hàng nhưng vì mặt mày của một thương gia ông đồng ý góp 1/5 vốn tức 4 triệu vào Tín Nghĩa Ngân Hàng. Tuy là quản trị viên của ngân hàng nhưng ông không quan tâm với công việc của ngân hàng, ông chỉ chú tâm vào công việc làm ăn riêng của ông mà thôi.

Ngân hàng Việt Nam Thương Tín họat động hơn một năm, có nguồn tin cho Nguyễn Tấn Đời biết ngân hàng sắp sập tiệm tin nầy như tiếng sét với ông. Nguyên do các quản trị viên vay mượn tiền của ngân hàng làm ngân hàng thiếu vốn dự trữ. Để có giải pháp êm đẹp cho ngành ngân hàng, ông Thống Đốc Ngân hàng Quốc Gia, mời Nguyễn Tấn Đời gặp riêng để bàn kế hoạch cứu nguy. Nguyễn Tấn Đời được mời chỉ vì ông là một Quản Trị Viên của Tín Nghĩa Ngân Hàng có nhiều tiền nhất trong các quản trị viên. Theo đề nghị của ông Thống Đốc, Nguyễn Tấn Đời nên mua lại những cổ phần của các quản trị viên thiếu nợ ngân hàng để trở thành người có cổ phần nhiều nhất. Theo điều kiện qui định của Ngân Hàng Quốc Gia ông Đời phải mua lại 3/5 trị giá thật sự của Tín Nghĩa Ngân Hàng. Ngoài ra ông Đời phải bỏ thêm 100 triệu đồng tiền mặt vào Tín Nghĩa Ngân Hàng để hội đủ mức tiền dự trữ tối thiểu. Sau đó Ngân Hàng Quốc Gia sẽ cho vay 100 triêu để Tín Nghĩa Ngân Hàng tái họat động. Đồng thời Ngân Hàng Quốc Gia đưa những chuyên viên về ngân hàng vào làm việc cho Tín Nghĩa Ngân Hàng như: ông Dương Hoàng Danh Phó Tổng Giám Đốc Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín, cùng phụ tá là ông Nguyễn Hữu Thiện và một số chuyên viên kỹ thuật, Nguyễn Tấn Đời trở thành ông chủ ngân hàng một môi trường hòan toàn mới không có kinh nghiệm. Nhưng với sự thông minh và chịu khó học hỏi, mỗi khi Nguyễn Tấn Đời ký giấy tờ hay công văn, ông phải hỏi thật căn kẽ, được sự giải thích của nhóm viện trợ kỹ thuật trước khi ký. Nhờ vậy ông nắm vững kỹ thuật, các nguyên tắc của ngành tài chánh, ông bắt đầu chú ý và thích thú. Năm 1968 ông sang Canada thăm con đang du học nhân tiện tìm hiểu và học hỏi thêm về ngành ngân hàng.

Với kiến thức về ngành tài chánh ngân hàng qua sự tự tiềm tòi nghiên cứu, Nguyễn Tấn Đời quyết tâm rèn luyện thêm về trí lực. Sáng kiến là số vốn không ai cướp được, liên tục trong nhiều năm ông làm việc 7 ngày một tuần mỗi ngày trên 14 tiếng. Chỉ có sự hiểu biết thực tế, ý chí cương quyết và sự làm việc liên tục mới bảo đảm kết quả lâu dài. Sự thành công của ông là do việc quan sát và học hỏi, biết lợi dụng cơ hội. Trong nghiệp vụ ngân hàng ông đã nhìn thấy những yếu điểm :
Thứ nhất tranh nhau khách hàng to (giới bán sĩ), bỏ quên khách hàng nhỏ, nhất là đối với quần chúng bình dân.
Thứ hai: không khai thác trương mục tiết kiệm phổ cập đến dân chúng.
Thứ ba: không trả tiền lời ký thác công bằng (trả tiền lời theo kết số thấp nhất trong tháng).
Thứ tư: Chi phí lập hồ sơ cho vay, mở trưong mục, phát hành chi phiếu và lệ phí chuyển ngân quá cao.
Từ những yếu điểm cố định của các ngân hàng trong nước, Nguyễn Tấn Đời lên kế họach cải tiến Tín Nghĩa Ngân Hàng tạo sự hấp dẫn, tạo cơ hội cho khách hàng đến mở trương mục với Tín Nghĩa. Nguyễn Tấn Đời đánh mạnh vào việc quảng cáo, quảng bá Tín Nghĩa Ngân Hàng với hình tượng ông Thần Tài. Thành Lập Ban Mại bản, Tiếp tân và chiêu đãi tất cả khách hàng lớn nhỏ. Mở thêm nhiều chi nhánh tạo điều kiện thuận tiện cho khách hàng mỗi khi đến làm việc với Tín Nghĩa.

Tín Nghĩa Ngân Hàng có biểu tượng hình ông Thần Tài cầm xâu tiền trong tay, người dân thường gọi Ngân Hàng ông Thần Tài. Với Tín Nghĩa Ngân Hàng Nguyễn Tấn Đời như cá vượt vũ môn, những chi nhánh Tín Nghĩa Ngân Hàng mở ra khắp các tỉnh thành, hàng trăm chi nhánh trên toàn miền Nam Việt Nam, gần như chiếm lĩnh toàn bộ các dịch vụ tiền gửi và cho vay. Chỉ trong vòng 4 năm ngân hàng của ông vượt trội Việt Nam Thương Tín. Tín Nghĩa Ngân Hàng có những điểm hơn các ngân hàng khác với nhiều lý do. Thứ nhất: tính phổ cập đến mọi tầng lớp dân chúng, mọi người có thể giao dịch với ngân hàng, ngân hàng không phải chỉ dành riêng cho một giới nào đó mà thôi, khuyến khích người dân bỏ tiền vào ngân hàng qua trương mục tiết kiệm, người bỏ tiền vào ngân hàng được cấp một sổ tiết kiệm và sẽ được hưởng tiền lời tính theo ngày không tính theo tháng như các ngân hàng khác. Để cạnh tranh với các ngân hàng khác, ngân hàng Tín Nghĩa có thể cho tiền lời cao hơn các ngân hàng khác, người bình dân có ít tiền cũng đem gởi vào ngân hàng của ông Thần Tài. Thứ nhì: người làm thương mại muốn vay vốn làm ăn đến Tín Nghĩa Ngân Hàng có thể thủ tục cho vay dễ dàng hơn, hoặc tiền vay lãi nhẹ nhàng hơn nơi khác. Mấy mươi năm trước ở Sài Gòn vang danh Chú Hỏa (Hui Bon Hoa 1845-1901) giàu nhất nước chỉ nhờ vào hệ thống cầm đồ cho vay với phân lời cao.

Với hệ thống ngân hàng người ta có thể đi vay tiền dễ dàng và nhanh chóng hơn, tiền lời thấp lại cố định…Nguyễn Tấn Đời với vai trò Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám Đốc Tín Nghĩa Ngân hàng có tài khoản ký thác 30 tỷ đồng trong khi đó những ngân hàng khác chỉ có 18 tỷ. Với khối tiền tỷ Nguyễn Tấn Đời đầu tư vào các dịch vụ sinh lợi vừa kiếm lợi nhuận cho cá nhân, vừa đem tiền vô ngân hàng coi như ông hưởng lợi hai đầu. Nguyên Tấn Đời có một quan niệm về sự thành công mang tính triết lý cho những người thích làm ăn buôn bán “ Phải biết mình ở đâu” và “ Muốn đạt được thắng lợi, phải biết để mũi ra ngoài cưa sổ và đánh hơi thật xa, phải chính xác và kịp thời”.

Đất Sài Thành vào thập niên 60 và đầu những năm 70 những người làm ăn ở thành phố nầy cũng phải có quan hệ dây mơ rễ má hay giao tế ít nhiều với các quan chức như vậy công việc kinh doanh họ sẽ dễ dàng hơn. Sự thành công của ông Đời làm nhiều người ganh tỵ tìm cách gây khó khăn cho ông, nhưng tất cả đều êm xuôi vì ông biết đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Từ năm 1970 đến năm 1974 với sự lớn mạnh của Tín Nghĩa Ngân Hàng ông quen lớn nhiều giới chức cao cấp trong chánh quyền bao gồm những nhà làm chánh trị, trong đó có tướng Dương Văn Minh. Ngày nào người ta cũng thấy ông cầm vợt ra sân đánh tennis với ông Minh, ông chơi với các quan chức ngoài địa vị Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị, ông còn là Dân biểu Quốc Hội Việt Nam Công Hòa khóa 1971-1975 đại biểu cho tỉnh Kiên Giang. Cứ 50, 000 người dân có một đại biểu theo hiến pháp thời đó. Ông không ra ứng cử ở quê nhà chỉ vì ông không thể tranh lại với những ứng cử viên có gốc Phật Giáo Hòa Hảo, người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo chỉ bầu cho người của họ, tỉnh Long Xuyên tuy là quê của ông, cũng có nhiều người ưa thích ông nhưng ông không thể tranh cử vì nơi nầy là cái nôi của đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Ông ra ứng cử ở Rạch Giá và đắc cử với số thăm bầu cho ông khá cao.

Chức dân biểu Quốc hội chỉ là lá chắn một tấm bình phong cho ông, với đặc quyền miễn tố trong một số trường hợp, nhưng với Nguyễn Tấn Đời là một việc khác, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nghe nhiều chuyện về ông Đời, người ta nói với khả năng hiện thời, ông Đời có thể là một Lã Bất Vi trong tương lai có hại cho chiếc ghế của Nguyễn Văn Thiệu, ông Thiệu không thể để yên cho Đời muốn làm gì thì làm. “Tiên hạ thủ vĩ vi cường” ra tay sớm là hơn hết. Tháng 3 năm 1974 trong vòng 48 tiếng đồng hồ sau khi chánh quyền ra lệnh phong tỏa tất cả Tín Nghĩa Ngân Hàng, ông Nguyễn Tấn Đời bị bắt khẩn cấp. Cuộc thẩm vấn diễn ra nhanh chóng, ông bị tống giam vào khám Chí Hòa miễn tử kim bài (chức dân biểu Quốc hội) không còn là lá bùa hộ mạng. Cái thế tam quyền phân lập chỉ là nhãn hiệu không giá trị gì hết. Năm 1972 Cộng sản vượt vĩ tuyến 17 tấn công Quảng Trị, Quốc Hội thông qua “Luật Ủy Quyền” để Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu rộng quyền ứng phó với tình hình quân sự. Việc bắt Nguyễn Tấn Đời là một chuyện nhỏ không vi hiến, nhưng với Nguyễn Tấn Đời là một nỗi oan, ông chỉ có một cái tội là quá giàu. Cái tội mà chánh quyến kết cho ông là làm ngân hàng Tín Nghĩa mất cân đối thu chi và không còn khả năng chi trả cho khách hàng. Cá nhân ông Đời đã vi phạm việc huy động vốn vào đầu tư và kinh doanh.

Khám Chí Hòa một nhà tù phức tạp được xây dựng thời Pháp thuộc được duy trì tới ngày hôm nay. Nguyễn Tấn Đời bị bắt đưa vào Nha Cảnh sát Đô thành chính Trang Sĩ Tấn Giám Đốc Nha thẩm vấn sau đó giam Nguyễn Tấn Đời vào khám Chí Hòa. Người tù trong khám được giam giữ trong nhiều khu riêng dành cho các thành phần tội phạm khác nhau, Nguyễn Tấn Đời là một người đặc biệt trên nguyên tắc ông phải được đối xử khác hơn những tội nhân khác, nhưng ông được giam chung với những người tù hình sự có thành tích côn đồ ngoài xã hội. Những tên tù nầy biết ông là ai, bọn chúng ra tay hành hạ ông, bắt ông nói với gia đình phải mang thức ăn ngon vào thăm tù để chúng hưởng thụ, đồng thời đòi tiền chuộc mạng. Một đòn hiểm của chánh quyền thời đó dùng tù nhân khai thác tù nhân, thủ đoạn nầy hiện nay đang được nhà cầm quyền Cộng sản thực thi đối với các nhà tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền.

Dưới áp lực nhà tù Nguyễn Tấn Đời phải ký bạch khế để người của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lấy tiền ngân hàng ở Thụy Sĩ. Một số tiền khá lớn, nhưng theo hồi ký của ông không nói bao nhiêu, và ông đã làm đơn kiện ngân hàng Thụy Sĩ sau khi định cư ở Canada trong vòng 20 năm nhưng không có kết quả cho đến ngày ông từ trần. Việc ông ký bạch khế qua sự trung gian của ông Huỳnh Trung Chánh một luật sư, chánh án của tỉnh Kiên Giang nơi ông ra ứng cử dân biểu, phía chánh quyền có Đại tá Phạm Kim Qui, Trang Sĩ Tấn, phía đại diện gia đình Nguyễn Tấn Đời có Bác sĩ Dân biểu Mã Xái đơn vị Long Xuyên.

Ngày 29 tháng 4 năm 1975 Tổng Thống Dương Văn Minh ký lệnh phóng thích Nguyễn Tấn Đời, Nguyễn Tấn Đời về nhà ở Sài Gòn, vợ và con của ông đã tìm cách xuất ngọai sang Canada trước, trong khi ông đang bị giam ở khám Chí Hòa. Họ ra đi theo lời khuyên của ông bởi vì theo ông suy đoán chế độ miền Nam sẽ mất. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 Nguyễn Tấn Đời chứng kiến Sài Gòn rơi vào tay Cộng sản. Miền Nam dưới sự quản lý của miền Bắc sẽ tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa. Ông Đời thấy dưới chế độ mới không thể tiếp tục làm giàu có khi lại bị tù trở lại, ông đã tìm cách vượt biên bằng ghe tàu. Ông Thiệu bắt ông bỏ tù nhưng vợ con không bị tội của chìm họ vẫn còn cất giấu đủ để hậu thân khi ông ra tù.

Ngày 01 tháng 5 năm 1975 Nguyễn Tấn Đời đi Vũng Tàu tìm đường vượt biển nhưng không đi được, ông quay ngược về Rạch Giá. Ở Rạch Giá mấy hôm có người mách bảo cho biết có ghe tổ chức vượt biển, chủ tàu bảo với Nguyễn Tấn Đời có nhiều người biết mặt ông, nên ở Rach Giá không tiện tạm thời về Long Xuyên tạm lánh, hẹn ngày 7 tháng 5 năm 1975 sẽ khởi hành. Chủ ghe bảo quần áo đồ đạc, tiền, vàng hãy đưa cho ông đem giấu trước dưới ghe. Tin lời chủ ghe Nguyễn Tấn Đời đưa một phần, còn vàng và đô la ông không giao hết cho chủ ghe. Đến ngày hẹn ông trở vô Rạch Giá chủ ghe biến mất, ông biết mình bị gạt rồi. Không thể bỏ cuộc nửa chừng, ông đón ghe đi Phú Quốc tìm đuờng đi tiếp. Tại Phú Quốc Nguyễn Tấn Đời tìm mua ghe để vượt biển, tiền bạc của ông không còn nhiều vì bị chủ ghe ở Rạch Giá gạt lấy đi một phần. Nhưng ở Phú Quốc ông găp được người tốt họ chịu giúp ông. Ông tin tưởng Quan Thương Đẳng Đại Thần Nguyễn Trung Trực đã phù hộ ông. Ngày 12 tháng 5 năm 1975 ông vượt biển đến Thái Lan, người Thái đưa ông vô trại Song Kla chờ ngày định cư theo diện đoàn tụ với vợ con ở Canda.

Định cư ở Canada, năm 1978 Nguyễn Tấn Đời lập nhà hàng bán thức ăn theo phong cách người Nhật với thương hiệu “Kobe” đã thành công ở Canada và các tiểu bang của Hoa Kỳ như: Florida, Washington DC, Chicago, New York, Hawaii... Ông chết vào ngày 6 tháng 7 năm 1995 hưởng thọ 73 tuổi. Nguyễn Tấn Đời để lại cho người đời những bài học quí giá, những kinh nghiệm sống thiết thực. Quan niêm sống của ông là giúp đỡ bà con họ hàng và bạn bè, nhưng trên thương trường là cạnh tranh quyết liệt không nương tay, thương truờng vói ông là chiến trường một sống hai chết.

Tài liệu tham khảo
• Hồi Ký Nguyễn Tấn Đời
• Các bài viết về Nguyễn Tấn Đời trên internet

Hoàng Sơn Long


Những Bài Viết Khác
Thơ Bảo Trợ và quảng cáo Cảm tạ và cáo lỗi Bài Viết