Đặc San Xuân 2017
Vàm Kinh Cũ
Nguyễn Thị Lộc Tưởng



Hơn 20 năm lăn lộn với cuộc sống ở xứ người trong nổi vui buồn của kẻ “ăn nhờ ở đậu”. Bây giờ tôi được về hưu “non”, ban đầu tôi cảm thấy buồn vì lối “vắt chanh bỏ vỏ” của đời, suy đi nghĩ lại tôi thấy không có gì đáng tiếc. Đời là giấc chiêm bao còn đó mất đó đâu ai biết trước, hơn nữa từ nay tôi không còn “lặn hụp” trong ngôn ngữ cũa người, tôi không cần uốn lưởi bẻ môi để nói cho đúng giọng. Nghĩ tới điều nầy không có gì sung sướng hơn, dĩ nhiên đời sống sẽ hơi chật vật vì không còn làm ra tiền nhưng ông bà có dạy “trời sanh voi thì sanh cỏ ”. Nguyễn Công Trứ có nói:

Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc,
Tri Nhàn tiện nhàn đãi nhàn hà thời nhàn.

Đúng là “nhàn cư vi bất thiện” được “ăn không ngồi rồi”, tôi lại ước ao viết hồi ký. Nhưng chỉ tiếc văn chương mình quá tệ. Tôi nhớ ngày xưa luận văn là môn tôi sợ nhất, người ta đôi khi bị “lạc đề” vì họ văn chương lưu loát ý tưởng dồi dào giống như sông Cửu Long mùa nước lũ lan tràn khắp nơi, còn tôi bị “nghẹt đề” viết vài câu là hết ý, đôi khi có ý lại không nặn ra lời giống như xạ lúa không gặp trời mưa. Tôi phải tìm đủ lý do dù là “ngụy biện” để yên tâm thực hiện hoài bảo của mình sau cùng tôi đã nghĩ ra.

Thứ nhứt: Ở cái tuổi “gần đất xa trời”, chúng ta điều muốn tìm lại những kỷ niệm ngày xa xưa, do đó nội dung bài viết là chính, cách hành văn chỉ là phương tiện chuyên chở tâm tình đến người đọc. Nếu bạn văn chương lưu loát kể như bạn đi bằng thuyền hoa, còn tôi văn chương lẩm cẩm cứ nghỉ như đi xuồng ba lá, dù là thuyền hoa hay xuồng ba lá chúng ta điều gặp nhau ở Châu Đốc đó mới là điều quan trọng .

Thứ hai: Nếu tôi viết bạn đọc không hiểu đó là “triết lý” (lối viết “cỏi trên”). Còn nếu bài tôi viết “dài dòng” xuống hàng, chấm, phết “lung tung” thì đây là lối hành văn mới.

Tôi lại chợt nhớ hai câu thơ trong một bài hát không biết của ai làm tôi càng thêm phấn khởi:

Viết hay không bằng hay viết
Viết dở đở hơn không viết

*
**

Tôi lớn lên trong xóm lao động có cái tên “vàm kinh cũ” cách bến đò Châu Giang nửa cây số (thuộc xã Châu Phong) đầu xóm, cuối xóm, cạnh xóm đều là người Chàm (cạnh xóm vì nó cách xóm tôi bằng con kinh Cũ). Sáng sớm đã bị lôi đầu thức dậy vì người Chàm đọc kinh bằng “Cái ô bẹt lưa”, buổi chiều khi mặt trời lặng lại phải nghe thêm lần nữa (nghe không hiểu “ngôn ngữ bất đồng”). Đến tối được ru ngủ bằng những giọng ngân nga đọc kinh của hội Phật Giáo Hoà Hảo phát ra từ cái loa khỏi nóc nhà hơn vài ba thước của xóm trong kế bên xóm Chàm (cái nầy thích hơn ít nhứt cũng hiểu. Có nhiều giọng ngâm nghe còn hay hơn Út Bạch Lan). Vì muốn được 2 chữ bình an nhà nào trong xóm cũng có hai cây cờ. Ngày 18 tháng 5 Âm lịch có người đi từng nhà bắt treo cờ nâu ,qua ngày lễ lấy xuống, đến ngày lễ Phật Đản lại treo cờ Phật Giáo Thống Nhất, cũng may không có Đạo Cao Đài, Thiên Chúa, Tin lành ..v. v… ở gần nếu không mỗi nhà phải tốn tiền mua thêm mấy cờ khác (rủi treo lộn cờ càng phiền). Trong xóm đa số là gia đình nghèo, đàn bà bán chè, bán cháo thêm nghề chầm lá ¹ và đan lưới, đàn ông thì làm lơ xe hoặc chạy xe lôi. Chỉ có một vài gia đình “danh giá” (trong cái xóm nhà nghèo) trong đó có gia đình tôi (Ông nội tôi là ông cả của làng thời Pháp). Tuy đời sống khó khăn (Tay làm hàm nhai, tối lai rai vài xị), mọi người rất thương và giúp đở nhau không bao giờ nghe cải lộn giữa nhà nầy với nhà kia, chỉ có vợ chồng đánh lộn, chưởi rủa con cái um sùm. Mỗi lần nhà nào có chuyện là một đống “bà con” đứng trước cửa nhà chờ “can”.

Cạnh nhà tôi có miếu Tiên Sư (còn gọi là nhà việc), Người dân trong xóm không biết Tiên Sư là ai chỉ biết thời xưa có trận dịch lan tràn người dân ở các xóm khác chết rất nhiều, còn xóm tôi Tiên Sư phù hộ nên bình an (??!!) từ đó cứ vào ngày 16 tháng giêng là cúng Tiên Sư (lần đầu tiên về quê năm 1992, ba tôi mua một con heo quay tạ ơn Tiên sư đã giúp “gia đình tôi ăn nên làm ra” ở xứ người và mời bà con ở xóm ăn nhậu thả dàn). Dân trong xóm rất tin Tiên Sư họ hay thề “Tao mà nói dóc Tiên sư vặn họng”, đôi khi có những trận đôi chối lớn, họ đến miếu đốt nhang dộng chuông rồi thề. Có người tin Ông Tiên Sư hơn bà Chúa Sứ, như chị Hai-Niếu ngày cúng Tiên Sư chị tặng 2 con vịt, mọi người khen chị “chịu chơi”, chị cười trả lời “Có vì đâu, hồi lúc vía Bà, tôi vái Tiên Sư phù hộ làm ăn khá vả sẽ cúng 2 con vịt” (những ngày vía Bà Chúa Sứ ở núi Sam chị bán nhang dạo). Cúng Tiên Sư là ngày vui nhất cũa xóm tôi. Mỗi năm vừa hạ niêu, Anh Hai Đáo “xi cà que” (danh từ nhà quê dùng cho người bị xuội một chân) xách cuốn sổ đi từng nhà khuyên tiền kẻ ít, người nhiều không ai than phiền hay phân bì, góp tiền để cúng Tiên Sư gần như là bổn phận, nếu trốn tránh không biết tai nạn gì sẽ xảy ra, ai cũng sợ.



Khoảng 2 giờ chiều ở miễu Tiên Sư bắt đầu rộn rịp, người đốn chuối, kẻ cắt lá dừa, anh thì sửa bếp ( vì phải nấu bằng chảo đụng nên họ đào cái lỗ ở bờ kinh trước cửa Miếu làm bếp, mỗi năm phải sửa lại vì mưa nắng và mùa nước lên). Trong xóm có ông Chín Lục Lành (tôi cũng không hiểu tại sao ông có cái tên kỳ cục) rất khéo tay, ông lấy thân chuối làm tàu, lá dừa làm mui, trong tàu có tài công và 2 anh lính bằng đất sét, ông vẽ mặt và lấy vải vụn may quần áo, tài công ông cho thêm bộ râu mép và đội nón được gắng thêm mấy cái huy chương do ông lượm để dành hoặc người nào có thì biếu (những hình nợm nầy ông đã làm mấy ngày trước) . Cúng lớn hay nhỏ tùy theo số tiền khuyên được, mấy bà thợ nấu đám cưới ở xóm thủ bếp nào chè đậu trắng, xôi, cháo vịt (vịt sau khi cúng sẽ trộn gỏi bắp chuối). Khoảng 7-8 giờ bắt đầu cúng, đèn “mang xông”, đèn “khí đá” sáng cả khúc đường. Mọi người lần lược vào miếu lạy sau đó ra ngoài xá chiếc tàu. Trong tàu có nhang đèn, trái cây, đầu heo luộc hoặc gà luộc hay vịt luộc tùy theo tài chánh. Con nít khuyên không nên đến gần sợ nói “tầm bậy” rồi hại thân, thím hai Luôn thường kể “năm đó con thằng Tám-Hết chỉ nói ‘chiếc tàu nầy bự quá nó ngồi cũng vừa’ sau khi “tống” chiếc tàu độ khoảng canh giờ nó trúng gió chết tươi” .

Đúng 12 giờ khuya chuông trống rùm beng vài người đàn ông trịnh trọng hạ chiếc tàu xuống nước cột sau chiếc xuồng tam bảng của chị Chín-Nữa rồi chèo ra sông lớn cắt giây, trong miếu buổi tiệc bắt đầu mọi người ăn uống vui vẻ (phần đông con nít không được ăn vì đã đi ngũ, nhà tôi kế bên nên ít khi mất phần). Năm nào cũng như năm đó chiếc tàu “tống gió” vừa rời bến đã có mấy anh hải tặc xóm dưới bịt mặt gom hết đồ ăn, bà con trong xóm nói “nó ăn cái xui xẻo của mình”.

*
* *

Phía sau miếu Tiên Sư là Trường học chỉ có 3 lớp: lớp năm, lớp tư và lớp ba mỗi lớp không hơn 20 chục học sinh trai gái học chung Việt Chàm lẫn lộn. Con gái Chàm học hết lớp ba là tới tuổi “cấm cung” ở nhà dệt vải, đang lưới chỉ được ra khỏi nhà ban đêm, lúc nào cũng phải phủ khăn mỏng che mặt sợ gặp người lạ. Còn con trai chàm làm nghề đánh cá, bán chăn xà rông hoặc bán lưới. Học sinh Việt Nam chỉ cần biết đọc biết viết, nhất là con gái phải ở nhà giúp gia đình cơm nước giữ em trưa thì đội khoai lang, khoai mì hoặc mía khúc đi bán dạo, do đó khi qua chợ học lớp nhì thì chỉ còn vài que. Con gái nhà “danh giá” ở xóm tôi chỉ biết từ nhà đến trường và từ trường về nhà. Còn tôi thì may mắn hơn họ ba tôi giao tôi cho ông anh lớn hơn tôi ba tuổi trông nom. Suốt ngày anh đâu em đó từ ra đồng bắt cá lia thia, bắt hôi ² cho tới thẩy lỗ, chọi đáo, đánh bài (Kích tê, dì dách, ngầu hầm, bài cào) với sự huấn luyện của ông anh, trò nào tôi chơi cũng ít khi thua.

Hơn nửa năm đầu lớp nhì ở Trường Nữ Tiểu Học tôi không quen ai nên vẫn bám vào ông anh quí của mình (đang học Trường Nam). Trời xui đất khiến anh em chúng tôi học cùng một buổi . Đã qua chợ chúng tôi văn minh hơn không còn đi bắt cá lia thia, chọi đáo với đám con nít ở xóm. Sau giờ học anh em tôi la cà ở chợ, ngang rạp hát Tân Việt có chiếc xe bán nước đá bào, khi chúng tôi phát hiện người chủ có thiếu bà chị thứ Năm một số tiền (không biết bao nhiêu, cần biết để làm gì), như buồn ngủ gặp chiếu manh, cứ mỗi ngày sau giờ học chúng tôi mượn chút đỉnh tiền ăn vặt hoặc đi coi phim hết rạp Lạc Thanh qua rạp Tân Việt được 2 tháng bà không đưa nữa và cho biết tiền thiếu của bà chị đã trả dứt (?) . Cũng không sao chỉ cần nhảy xuống đò qua bên kia sông là có “viện trợ ”. Chúng tôi có 2 ông anh, một bà chị nhà tại bến đò lúc nào cũng nhét tiền cho hai đứa em quý. Thường anh em tôi ăn cơm trưa ở nhà ông anh bà chị nầy chiều mới về nhà. Nhất là bà chị dâu thứ ba thương tôi như con. Đứa con đầu lòng của chỉ nhỏ hơn tôi vài tháng, ngày xưa chị vừa lo con vừa nuôi em chồng chị là người mẹ thứ hai của tôi.

Từ lúc bị cắt “ngân khoản” của bà chủ xe nước đá bào. Anh em tôi nghĩ trả tiền vào rạp là chuyện vô lý (trẻ em chỉ trả tiền tại cửa không cần mua vé). Đa số bạn của anh tôi đi coi hát không phải trả tiền. Ngày xưa một vé hát người lớn được dẩn theo một em bé, chúng tôi cũng như những đứa trẻ khác chực chờ trước cửa rạp tranh dành để được dẩn vô (nếu gặp người quen, chúng tôi tản lờ không dám ngó, ông già mà biết được là “bỏ mạng sa trường”) . Có lẻ mặt mày tôi dể coi cho nên tôi thường được “không cô nầy thì cũng thầy kia” dẩn vô rạp. Nhưng chỉ được một thời gian thì bể mánh mấy người xét vé biết mặt nên không cho vô nữa. Chúng tôi lại chơi trò khác thường những phim mới mọi người chen lấn nhau để vô cửa (tôi không hiểu tại sao mọi người lại phải tranh nhau vô trước tất cả vé đều có số nghế, có lẽ trong rạp hát có máy lạnh) chúng tôi xen vô chính giữa, đến khi cánh cửa vừa mở, chúng tôi bị làn sóng người đẩy vô, anh xét vé chưa kịp hỏi, chúng tôi đã “dọt” mất dạng nếu có ba người xé vé thì bị lôi cổ đuỗi ra (thường chỉ bắt được một đứa). Thời tôi còn nhỏ phim ảnh bị kiểm duyệt gắt gao, các đoạn phim mấy cô mặc đồ tấm, tình nhân hôn nhau điều bị cắt bỏ. Có khi mấy ông kiểm duyệt quên bỏ đoạn “hôn hít” đây là cơ hội “ngàn vàng” cho các anh. Tôi thì bụm mặt nhắm mắt, còn mấy anh thì la hét “Bis! Bis!!!”, tiếng còi tay rú lên còn lớn hơn xe hồng thập tự hụ còi, có phim tài tử hôn lần thứ nhì, tiếng hoan hô càng rùm beng hơn . Có thể các anh nghĩ rằng nhờ lời yêu cầu “Bis! Bis!!!..” mà họ hôn lần thứ hai(???!!!!!).

Gần cuối năm lớp nhì tôi bắt đầu chơi chuyền chuyền,nhảy dây, tù binh với các bạn học cùng lớp. Tôi không còn theo ông anh tôi nữa. Trong thời gian lang thang ngoài chợ tôi phát hiện một điều hết sức quan trọng là tôi rất mê đọc sách, tôi thường hay la cà ở tiệm sách Liên Hoa làm bộ lựa sách để coi cọp. Tôi mua những cuốn tiểu thuyết trinh thám, kiếm hiệp mỏng khoảng mười mấy trang giá tôi không nhớ rõ (50 xu hay một đồng). Đến năm tôi học lớp nhất tôi quen Thanh-Sương sau đó chúng tôi trở thành cập “bài trùng”. Cã hai thi rớt đệ thất phải học lớp tiếp liên. Năm đầu tiên thi rớt đệ thất tôi không thấy buồn, tôi nghĩ đó là chuyện bình thường, ông anh tôi thi 4 keo vẫn chưa đậu (sau khi thi rớt đệ thất, anh học tiếp liên, thi rớt lần nữa anh tôi học gởi lại lớp nhất, lại thi rớt học thêm lớp tiếp liên lần hai cũng thi rớt).

Ghi Chú:

¹ Chầm lá: kết lá dừa nước thành “tấm lá” để lợp hoặc dừng xung quanh khi cất nhà (gọi nhà lá). Tiền lương trả theo số lượng, chầm được nhiều thì được nhiều tiền

² Bắt hôi: Bắt cá còn sót lại sau khi tát đìa. Đìa là cái hầm lớn ở trong ruộng, mùa nước lên cá vô đó sinh sản, đến khoảng tháng chạp cá bán có giá người chủ tát nước bắt cá. Khi họ cảm thấy không còn cá trong đìa thì mọi người được quyền bắt hôi. Thường chiến lợi phẩm nầy anh em tôi không mang về nhà (ngu sao để ông già biết)


Những Bài Viết Khác
Thơ Bài Viết