Đặc San Xuân 2017
Năm Dậu Nói Chuyện Gà
Lữ Khách

Mặc dù tôi đã hòa nhập vào cuộc sống ở miền Nam từ lâu, nhưng mỗi khi năm hết Tết đến, thế nào cũng phải kiếm bằng được một cành đào từ quê nhà.

Năm nay đào lại nở

Thú chơi đào không biết có từ bao giờ, người Hà Nội không có cành đào trong nhà thì không thành Tết. Ở Hà Nội những ngày giáp Tết, những người trồng đào đưa vào họp chợ, rong ruổi trên các con đường Nhật Tân, Phức Xá, Nghi Tàm, Yên Phụ, đào vào thành phố như một dòng sông hoa, cuồn cuộn chảy đến tận chiều ba mươi Tết mới thôi.

"Sông hoa đào" Hà Nội khiến tôi nghĩ đến bài thơ "Đào hoa khê" (Suối hoa đào) của danh họa, nhà thơ Trương Húc đời Đường:

Ẩn phi kiểu cách dã yên
Thạch cơ Tây bạn, vân ngư thuyền
Đào hoa tân nhật tùy lưu thủy
Động tải thanh khê hà xứ biên
Dịch thơ:
Thấp thoáng cầu treo, cách khói đồng
Bờ Tây ghềnh đá, hỏi ngư ông
Hoa đào trôi mãi theo dòng nước
Động ở bên nào, mé suối trong
(Khương Hữu Dụng dịch)


Suối hoa đào của Trương Húc từ ở trên rừng và thi nhâ thấy cảnh đẹp quá, chợt nhớ đến bài "Đào hoa khê" của Đào Uyên Minh (tức Đào Tiềm), nhà thơ đời Tấn, nên đã nỗi thi hứng. Ông mường tượng ở đầu nguồn đào nhiều, thả cánh rụng xuống suối thành dòng hoa ấy, hẳn có động tiên nên mới hỏi thăm ông chài để tìm vào... Còn dòng sông hoa đào Hà Nội, tôi gắng đạp xe ngược theo "dòng sông" đến "Đào Hoa nguyên" thì chỉ thấy toàn những cô thôn nữ đầu tắt mặt tối. Phải chăng chính những cô tiên nữ đã hóa thân, làm cho cái Tết Hà thành càng thêm tưng bừng?

Muôn sắc hoa đào

Cây đào có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng không được coi là biểu tượng mùa xuân như ỏ Việt Nam; trong 10 loại cây được người Trung Hoa ưa thích nhất, đề cử làm quốc hoa của Trung Quốc, cũng không có hoa đào. Hoa đào vốn là cây ôn đới, không chịu được nóng, cũng rất sợ lạnh. Bài thơ "Đế đô thành Nam trang" của Thôi Hộ cũng chỉ tả lại sự kiện nhà thơ đi du xuân vào lễ Thanh minh (khoảng tháng 4 dương lịch), lúc đó mùa xuân đã đến từ lâu rồi, nên hoa đào không còn báo hiệu mùa xuân nữa. Ở Việt Nam, hoa đào nử vào tiết lập xuân cách Tết Nguyên đán không xa nên những người trồng hoa cố ép cho đào nở đúng vào dịp Tết để nâng giá trị thương mại.

Năm ngoái tôi có dịp du lịch tỉnh Sơn Đông của Trung Quốc. tỉnh Sơn Đông có huyện Phì Thành được coi là quê hương cùa hoa đào Trung Quốc, cánh đồng thay vì lúa mì, cao lương, lại bát ngát hoa đào, xe đến gần đó cả cây số đã ngửi hương thơm ngây ngất. Hằng năm, Phì Thành tổ chức Festival hoa đào vào dip3 Thanh minh, khiến một huyện nhỏ trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn nhất Trung Quốc.

Trong pho truyện Anh Hùng Xạ Điêu, nhà văn Kim Dung đã mô tả ngoài khơi tỉnh Triết Giang ở miền Đông Trung Quốc, có đảo Đào hoa là nơi cư trú của một trong "võ lâm ngũ bá" Đông tà Hoàng Diệp Sư. Trên đảo trồng đầy hoa đào, bố trí theo kỳ môn độn giáp, ngũ hành bat quái, người lạ lên đảo sẽ bị lạc, không tìm được đường ra. Vì vậy "Lão ngoan đồng" Châu Bá Thông đã bị nhốt trên đảo 15 năm. Đảo đào hoa là địa danh có thật, chính quyền trên đảo đã mượn cốt truyện hư cấu nói trên để phát triển du lịch, xây dựng công viên van hóa Kim Dung, dựng tượng nhà văn trước nhà tưởng niệm, bất chấp sự phản đối của nhà văn vì ông vẫn còn đang sống! Báo hiệu mùa xuân ở Trung Quốc là hoa mai (hồng mai, khác với mai vàng ở miền Nam nước ta). Hoa nở khi tuyết chưa tan, cùng với cây tùng, cây trúc hợp thành "tuế hàn tam hữ" (3 người bạn trong trời lạnh). Trước đây, tôi vẫn tưởng hoa mai Trung Quốc là loài hoa duy nhất nở cuối đông - đầu xuân; khi được đi nhiều nơi ở Trung Quốc, tôi mới phát hiện ra loại hoa chịu dược giá lạnh mùa đông, là hoa biểu tượng của tỉnh Vân Nam và thành phố Thanh Đảo. Cây thưởng ngoạn nổi tiếng cùng họ Tường vi (Rosaceau) còn có hoa anh đào (sakura), vốn được coi là quốc hoa của Nhật Bản, cũng có bài hát dân gian Sakura rất trử tình. Hoa đào cũng nở vào thượng tuần tháng 4, có màu sắc từ trắng dến phớt hồng, đỏ thắm, mùi thơm dịu. SQunah Hồ Xuân Hương ở Đà Lạt cũng có nhiều hoa anh đào (còn gọi là mai anh đào). Nhiều tháng liền, mai anh đào hầu như trụi lá, tưởng như không còn sức sống, thế mà vào thời điểm lạnh nhất trong năm, cây bổng dưng trổ nụ, chờ đến trời ấm trở lại, đồng loạt nở hoa. Tuy không có cảnh hoa tràn ngập như ở Tokyo, nhưng cũng tăng xuân sắc cho phố núi.

Canh nồi bánh tét nhớ vị bánh chưng

Mỗi năm, ngoài 20 tháng chạp, tôi thấy trên đường phố Sài Gòn xuất hiện những chiếc xe 3 bánh, đánh trống "thùng thùng" để thu hút trẻ em. Trên xe bày bán những bộ trống, chiêng, ông địa, đầu lân... những món đồ chơi mà miền Bắc chỉ có vào dịp rằm tháng 8, tôi cảm thấy rộn ràng như cánh én báo hiệu mùa xuân. Tôi đã ăn 36 cái Tết cùng cô vợ người Nam, nhưng quên sao được cảnh cả nhà quây quần canh nồi bánh chưng suốt đêm không ngũ mà không sao biết mệt, tiếng sôi của nồi bánh chưng nghe thúc giục làm sao, quyện với lá dong gạo nếp thơm lừng. Khi canh lửa, bố tôi thường nhắc nhở phải canh lửa cho đều và chế nước đủ không để cạn. Đun từ 10 đến 15 tiếng đồng hồ thì bánh mới đến. Miền Bắc trong thời kỳ trước, nếp được nhà nước cung cấp, nhưng phải trừ vào khẩu phần gạo, thit heo cũng bán theo tem phiếu với định lượng mỗi tháng 250g/người, lấy đâu để gói bánh chưng? Lúc đó, ngay ở thành thị, nhà nào rộng một chút đều nghĩ đến việc nuôi heo cải thiện, Tết đến, mươi nhà mổ chung một con heo, gọi là "đánh đụng", đủ thịt gói bánh và giò, còn dư mỡ để ăn quanh năm.

Miền Nam tuy không gói bánh chưng, nhưng đã có bánh tét. Một số người cho rằng cách gói bánh tét có thể được đọc trại bánh Tết mà ra. Người dân miền Nam còn lưu lại câu ca dao:

Chim kêu ba tiếng ngoài sông
Mau lo lựa nếp hết đông Tết về

Thay vì gói lá dong như người miền Bắc, vơ tôi trải dài lớp lá chuối, cùng nếp và đậu xanh, giữa đặt thoi mỡ to cỡ ngón chân cái, trong tựa như cây bấc. Thời gian luộc cũng chỉ bằng nữa thời gian luộc bánh chưng, vợ tôi lại có sáng kiến luộc bằng than thay vì củi, chỉ tốn chừng chục ký than nên cũng chẳng lấy đâu ra khói bánh chưng. Cả nhà lo đi ngũ, chẳng có ai háo hức chờ ăn cái bánh đầu tiên. Thấy vợ tôi vất vả, lại không còn phù hợp với "kinh tế thị trường" nữa nên dần dần gia đình tôi cũng bỏ luôn nồi bánh tét. Tôi tin rằng ở miền Bắc, nhất là ở thành thị cũng chẳng mấy nhà gói bánh chưng nữa.

Món bánh chưng kiểu "ăn chắc mặc bền" dần dần không còn thu hút giới trẻ nữa, lũ trẻ ở nhà cũng thích ăn bánh tét hơn. Tôi lần mò tới tận Xóm Mới, Quận Gò Vấp mua 2 cặp bánh chưng "Bắc chính hiệu" mà cũng ăn không hết. Tuy vậy, bánh chưng cũng như bánh tét là món quốc hồn quốc túy, thể hiện độc đáo của văn hóa ẩm thực Việt, vẫn sức hút với du khách nước ngoài, là niềm tự hào của dân tộc.

Vài nét về đón xuân ở hai miền

Giây phút hồi hộp và được chờ đợi nhất là đón giao thừa. Trước giờ thiên liêng ấy, người cao niên nhất trong gia đình đi chùa, hái một cành xanh mang về đúng lúc giao thừa, gọi là "hái lộc" và trở thành người "tự xông nhà"; cà nhà lớn, bé xúm lại chúc Tết và được tiền mừng tuổi. Tếp đó vào khoảnh khắc giao thừa tiếng pháo rền từ đầu làng đến cuối xóm... "Xông nhà" (xông đất) là phong tục độc đáo của nước ta, người miền Bắc chú trọng hơn người miền Nam. Từ những ngày trước Tết, gia chủ phải chọn sẳn trong bè bạn, họ hàng "người tốt vía", nghĩa là đạo đức tốt, tính tình vui vẻ, tin tưởng người đó sẽ mang lại may mắn cả năm cho gia đình mình. Dù có sắp xếp trước, nhưng vẫn có thể gặp những người bộp chộp "không mời mà đến", lúc đó gia chủ đóng cửa đóng then cài khiến người đó phải biết ý ra về. Để tránh trường hơp không vui đó, chủ nhà thường "tự xông nhà". Có người xông nhà xong, cánh cửa sẽ mở toang đón khách.

Trên thế giới chỉ có người Scotland có tục lệ xông nhà, gọi là "first step". Những nước có phong tục gần gủi vói ta như Trung Quốc, Triều Tiên, cũng không có tục lệ này. Thời buổi kinh tế thị trường, những "đại gia" đặc biệt coi trọng người xông nhà nen không thiếu nơi cung cấp dịch vụ này. Chỉ cần bỏ ra vài triệu dồng là có người xông nhà hợp về tuổi tác, ngũ hành đến gõ cữa vào sáng mùng một. Nhưng ai cũng thấy rất ư là "cải lương", mất hết tính tùy hứng của tục xông nhà.

Điều khiến tôi ngạc nhiên là gần đến Tết, khắp các xóm làng miền Tây Nam Bộ, đâu đâu cũng nghe tiếng giã chày giã cốm. Cốm miền Nam gọi là cốm dẹp, cũng làm từ lúa non, nưng khác với cốm vòng miền Bắc (nói đúng hơn là đăc sản làng Vòng Hà Nội) ở chổ không có công đoạn "hồ" (nhuộm màu bằng chất tự nhiên) nên không có màu xanh bắt mắt. Cốm vòng chỉ có vào mùa thu, khi nổi gió heo may, được gói bằng lá sen, ăn với chuối chín cuốc, hương vị không sao sánh được.


Hoa Anh Đào Nhật Bản

Trong mấy ngày Tết, miền Nam cũng như miền Bắc, nhà nào cũng phải trưng mâm ngũ quả. Mâm ngũ quả ở miền Bắc thường là tùy hứng, miễn sao cho đẹp mắt; mâm ngũ quả ở miền Nam, số trái cây thường vượt quá con số 5: ngoài cầu (mãng cầu), vừa (dừa), đủ (đu đủ), thơm , xài (xoài), còn có bưởi, chuối, nhưng phải là chuối sứ, chứ tuyệt nhiên không phải chuối già (chuối tiêu) như người miền Bắc. Mâm ngũ quả miền Nam còn có 2 món phải nhập cảng: quýt Tiều và hồng khô. Tết miên Nam cũng không thể thiếu cặp dưa hấu, dưa hấu Tết nặng cả chục ký; chỉ để chưng, thường hay bị sâu sau mấy ngày Tết. Miền Bắc vào dịp Tết không có dưa, gần đây người ta cũng cúng dưa từ miền Nam chuyển ra.

Trong mâm cơm cúng giao thừa ở miền Nam, người ta thường thêm chiếc mũ cánh xuồn; đó không phải là trang phục của thần tài, thổ địa, mà là của Hành Khiển, một vị thần ít người biết đến. Tục xưa quan niệm rằng mỗi năm có một ông Hành Khiển coi việc nhân gian, nhưng theo chế độ luân phiên, hết năm thì thần nọ bàn giao thần kia.

Ngày Tết, mọi người thường bận đi thăm viếng nhau, chẳng ai muốn vùi đầu vào bếp, nên nhà nào cũng chuẩn bị thức ăn; khi đi du xuân về mỏi mệt là có thức ăn ngay, hoặc bất chợt có bè bạn đến chúc Tết là có thể dọn ra lai rai. Người miền Nam thế nào cũng phải có một nồi thịt kho hột vịt nước dừa bự tổ chảng và nồi khổ qua dồn thịt; ngoài ra phải có một hủ lỗ tai heo ngâm giấm và tôm khô củ kiệu, dưa giá. Người miền Nam thích ăn cuốn; lỗ tai heo ngâm giấm là để cuốn với rau sống, bánh tráng; có khi họ cuốn ngay cả thịt kho và chấm nước thịt...

Người miền Bắc cũng phải có nồi thịt kho, nhưng là kho quẹo, gọi là kho tàu, không có nước dừa và hột vịt. Ngoài ra, phải có thịt nấu đông và giò thủ. Người miền Bắc không ăn củ kiệu, thay vào đó là ăn dưa hành. Dưa phải để nguyên cây, hành phải hành tím, khi muối phải đè cối đá hoặc vật nặng lên, gọi là "muối nén". Ở miền Nam, ngày Tết cũng mua được "hành muối" nhưng là ngâm với giấm đường, ăn giống củ kiệu, mất hết hương vị ban đầu.

Trước đây ở miền Bắc, đậu xanh mua về dạng nguyên hột, phải làm lấy mọi công đoạn gồm cà (xiết), đãi, hấp, xay, chứ không tiện như ở miền Nam, đậu mua về đã cà và đãi vỏ sản. Gói xong bánh chưng, đậu bao giờ cũng còn dư, dùng để nấu chè kho. Nấu chè kho cực nhất là khâu quậy; phải quậy không ngừng tay cả tiếng đồng hồ, có khi bị phỏng đó dầu nóng bắn tung tóe. Công việc "đơn giản" đó thường được giao chờ còn nít.

Bàn về không khí ngày Tết

Tết đến, những người cùng cảnh tha hương như tôi đều hoài niệm xứ Bắc, dù miền Nam không thiếu thứ gì, miễn là có tiền, nhưng cũng không thể có không khí Tết như miền Bắc.

Đó là không khí gì? Có người giải thích là khói nồi bánh chưng. Điều đó cứ lý, nhưng phải đặt vào hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn lúc bấy giờ; cả năm thiếu thốn, tất cả dồn vào 3 ngày Tết, mà bánh chưng là đầu vị.

Tết Năm Thìn, có một du khách Trung Quốc đến thăm Bắc Hàn, ghi nhận họ vẫn ăn ngon mặc đẹp, giữ được phong tục có là quỳ lạy cha mẹ, không khí Tết còn đậm đà hơn cả Trung Quốc - cội nguồn của ngày Tết cổ truyền này. Điều đó cho thấy nhu cầu hưởng thụ vật chất của người Bắc Hàn bị dồn nén bấy lâu nay đã bộc phát nhân dịp đất nước bắt đầu mở cửa, mặc dù mới chỉ là hé mở.

Tết miền Bắc, khí trời thường se lạnh, có khi rét đậm, mọi người co ro, thở ra khỏi trắng, đi chúc Tết nhau mới có không khí Tết. Tuy nhiên, âm lịch không phản ảnh thời tiết, có nằm gặp gió nồm, rất nực và ẩm. Lúc đó miền Bắc tủ lạnh còn chưa phổ biến, thịt đông không đông, giò thử nhão ra, bánh chưng bị thiu, người miền Bắc sẽ than vàn; "Chẳng ra ngày Tết"!

Tết miền Nam vào giữa mùa khô, thời điểm nóng nực nhất trong năm. Ta đi chúc Tết mồ hôi nhễ nhại rồi uống nước đá, ăn dưa hấu, vẫn thấy vui.

Ở Little Saigon, bang California bên Mỹ, đồng bào vẫn rộn ràng đón Tết, nhưng xung quanh mình, người Mỹ vẫn đi lắm, họ nhìn người Việt với con mắt hiếu kỳ - cái Tết lạc lõng ở xứ người. Thế mới biết "không khí Tết còn cần đến yếu tố con người, đó là "nhân hòa". Tết đã đến với tôi khi mọi người xung quanh cùng đón Tết, mặc dù miền Nam trời nóng nực.

Tuy tục ngữ có câu "Tháng Giêng là tháng ăn chơi", nhưng tục ăn Tết kéo dài chỉ còn ở vùng nông thôn hẻo lánh, còn đa số chúng ta, sau bửa tiệc tiễn ông bà vào ngày mùng 3 Tết, trẻ con thì luyến tiếc, người lớn thì thở phào nhẹ nhõm: "Thế là hết Tết"!

Thêm một tuổi, tôi cảm thấy quỹ thời gian của mình đang cạn dần, nên đã làm bài thơ nôm na sau đây để chúc Tết độc giả, mà trước tiên là những người sắp bước sang tuổi"cổ lại hy" như tôi:

Bảy mươi than xế tà,
Chỉ có xuân không già
Cung chúc cùng vui khỏe,
Gió xuân khắp mọi nhà.



Những Bài Viết Khác
Thơ Bài Viết