Đặc San Xuân 2017
Nhớ xưa ngày Tết Tết Thầy
Nguyễn Thị Sơn Ca

Nhớ xưa… nhưng không xưa lắm, mới hơn nửa thế kỷ thôi, mà tôi tưởng chừng như mới hôm nào.

Ngày đó chúng tôi là một nhóm nam nữ gốc gác Miền Nam “tiên phong” ra Huế học Viện Hán Học trực thuộc Đại Học Huế được thành lập do mỹ ý của Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa Ngô Đình Diệm. Những năm đầu chúng tôi còn gắng dành dụm tiền để về ăn Tết với gia đình. Những năm sau vì tình hình an ninh không được tốt: Xe đò, xe lửa bị “mấy ảnh” vì sống trong rừng với khỉ nhiều quá nên buồn chán, bèn ra ngoài để được gặp loài người, thường “ưu ái” tặng cho mấy “trái lựu” (đạn) hoặc mìn nên chúng tôi sợ “ăn” vô bị mắc nghẹn… chết yểu hoặc “ngộ độc” phải cưa chân, cưa tay làm “giai nhân độc cước” hay “giai nhân độc thủ,” đành không về Sài Gòn ăn Tết với gia đình mà ở lại Huế, tự tổ chức vui Tết với nhau. Nói là “Vui Tết” chứ thật ra “Buồn Tết.” Nhưng chúng tôi có niềm an ủi lớn từ các thầy và gia đình các thầy đem lại.


(Linh mục Cao Văn Luận đọc diễn văn khai mạc Niên Khóa 1961-1962)

Cái Tết đầu tiên mà chúng tôi xa nhà, nếu nhớ không lầm, là vào năm học thứ ba. “Cư dân Xóm Trong” của tôi chỉ có ba người mà Ngân thì “bay” về Sài gòn với gia đình trước đó vài ngày rồi, chỉ còn lại Ngọc Minh và tôi. “Xóm Ngoài” cũng chỉ còn vài ba người gồm luôn cánh chim đầu đàn là chị Hai Cam. Hai “xóm nhà lá” này cùng một số nam sinh viên gốc Miền Nam ngụ tại Đại Học Xá Nam Giao họp nhau tổ chức ăn Tết. Đúng ra chỉ tổ chức được một buổi tối Giao Thừa “Tống Cựu Nghinh Tân” mà thôi, còn những ngày khác mỗi người “tự biên tự diễn.”

Huế những năm đó ăn Tết không tưng bừng pháo nổ, không “ngựa xe như nước áo quần như nêm,” (Truyện Kiều của Nguyễn Du) không rộn rã, ồn ào, náo nhiệt như Sài Gòn. Huế trầm lặng. Huế ấm cúng. Huế của gia đình. Ngày Mùng Một, bà chủ nhà dẫn hai con đi chúc Tết người thân thuộc. Minh và tôi buồn muốn khóc, nhưng sợ xui bèn “ngậm cười” nơi… Bến Ngự(!) Sau một lúc hối hận vì đã không về Sài Gòn ăn Tết với gia đình, tôi đưa đề nghị:

– Người ta Mùng Ba Tết Thầy, mình cứ “Tết Thầy” cả ba Mùng luôn đi.
Ngọc Minh đáp:
– Mình biết tim đen của Phi rồi. Muốn “ăn chực” thì cứ nói thẳng đi. Mình có bánh mứt… làm quà cáp hay không mà ra điều… Tết Thầy… Học trò có tình có nghĩa dữ… a… a…!!!
Tôi cố chống chế:
– Thì Chúc Thầy… Các thầy biết tụi mình học trò nghèo, Tết xa nhà buồn, mang quà đến còn bị rầy thêm. Tình nghĩa là quan trọng nhất.
Minh đưa thêm một thắc mắc:
Hôm nay Mùng Một, coi chừng “xông nhà” đầu năm… không hạp thì phiền lắm đó.
– Thầy mình Tây Học mà, không dị đoan đâu.
Minh lý giải:
– Ờ… ờ… Tên Minh của tui có nghĩa Sáng Rực. Mặt trời và Mặt Trăng ráp lại với nhau thì còn gì sáng bằng.(1) Vậy nếu là người “xông nhà” thì tốt quanh năm à nghen.
(Chú thích 1: Theo chữ nho Minh 明 là do hai chữ Nhật 日 & Nguyệt 月 ghép lại).
Tôi chọc: – Chứ không phải Ngọc Minh 玉 冥 là viên ngọc giả cho nên mờ mờ (2)
(Chú thích 2: minh 冥 còn có nghĩa là mờ mịt, tối tăm trong chữ u minh).
Minh phản kích:
– Thôi, mình không đi chung với Phi đâu. Hai đứa Phi Minh(3) bước vô nhà Thầy thì “chẳng sáng sủa” cả năm.
(Chú thích 3: Phi 非 : có nghĩa chẳng phải ví dụ: phi lý 非 理 . Phi còn có nghĩa là trái, phản nghĩa với phải như trong chữ thị phi 是 非 .)
Tôi cự nự:
– Bậy! Phi 飛 của mình có nghĩa là bay. Cụ Bột dạy sử Trung Quốc cho nghĩa tên Hồng Phi 鸿 飛 của mình là “cánh hồng bay bổng tuyệt vời.” Cụ bảo: Chim hồng là loại chim bay cao và xa, ý chỉ người có chí lớn.
Minh cười ha ha ha… xong “phán”:
– Đúng rồi. Cụ Bột già vậy mà thấy rõ chí trên đầu của bạn. Thế thì nó phải lớn lắm rồi, ai chả biết!!!
Tôi đưa đề nghị:
– Thôi đi! Đầu năm đầu tháng, nói bậy bạ không hà. Tính chuyện ba ngày Tết này đã. Trong mấy ngày Tết, O bán Bún Bò dạo mỗi tối, “ân nhân cứu đói” của bọn mình, bận ở nhà vui Xuân với gia đình, không đi bán mô. Bọn mình đói rả họng. Chúng ta ra “xóm ngoài” xem có tổ chức ăn uống chi không để ăn ké.
– Mới ăn Tất Niên hôm qua rồi, tổ chức gì nữa. Chị Hai Cam sợ gãy móng tay khi làm bếp, không nấu nướng từ lâu rồi. Bọn mình mặc áo đẹp vào, rũ nhóm ngoài cùng đi chúc Tết các thầy.
Thế là chúng tôi lôi áo đẹp ra mặc. Trong lúc tôi còn đang loay hoay thay xiêm đổi áo, thì nghe Minh reo:
– A! Chị Hai Cam “Xóm Ngoài” tới kìa. Không biết cam này ngọt hay chua đành phải nuốt đây? (4)
(Chú giải 4: Cam 甘 có nghĩa là ngọt, cũng có nghĩa là đành chịu).
Chị Hai Cam bước vô hỏi:
– Hai đứa định đi đâu đó, cho tháp tùng với. Mấy đứa ngoài đó đi chùa Thiên Mụ rồi. Chùa này mình đã đi nhiều lần nên chán. Ở nhà buồn quá bèn tìm hai đứa để tán dóc cho vui.
Minh hí hửng đáp:
– Có chị tới thì tốt quá: Ngọt Ngào đi trước, Rực Rỡ tiếp theo, Chí Lớn vào cuối.
Chị Hai ngơ ngác hỏi:
– Minh nói gì dzậy?
Tôi giành nói:
– Đi xông nhà các thầy: Cam đi số 1, Minh số 2, Hồng Phi số 3 đem ngọt ngào, rực rỡ, vinh quang vào nhà các thầy.
– Có đem thiệt không đó hay ăn Tết chực?
Tôi nhỏ giọng:
– Thôi mà chị… Mình mang tư tưởng tốt và lời chúc đẹp vào nhà thầy là được rồi.


(Thầy Phan Văn Dật (thứ 2 từ trái) & Môn sinh VHH)

Cả ba lên xe đạp vào Thành Nội, đến chúc Tết Thầy Giám Học trước. Nói tới Thầy họ Phan này là phải nói tới sách, e rằng sách của Thư Viện Huế cũng không bằng. Chỗ nào trong nhà cũng có sách, toàn là sách quý hiếm, phần lớn được viết bằng chữ Pháp và chữ Hán. Học trò hay bất cứ bạn bè nào cần là Thầy sẵn sàng cho mượn. Sau 1975 Thầy bị đứa học trò thời học Quốc Học với Thầy, thuộc loại “nằm vùng” và là một trong ba tên đồ tể khét tiếng ác ôn năm Mậu Thân 68 ở Huế, lừa lấy gần hết. Nhờ đó bây giờ anh ta trở thành nhà Nghiên Cứu Huế. Thật xót xa cho Thầy!

Thấy chúng tôi tới chúc Tết, thầy vui vẻ thân ái bảo người nhà dọn ra đủ thứ bánh, kẹo, mứt, bánh chưng, dưa món… Ba đứa tuy bụng đói mà cứ giữ kẻ, ăn như “mèo liếm.” Khi ra về tiếc hùi hụi: “bánh chưng ngon quá, phải chi ăn thêm miếng nữa cho đỡ thèm!”

Chị Hai Cam an ủi:
– Nữ thực như miêu mà… không lẽ thực như hổ thì làm sao “yểu điệu thục nữ” để “quân tử hảo cầu!” cho được! Thôi, đừng tiếc nữa, lo đi tiếp.


(Thầy Cô Võ N Nguyện và cựu môn sinh VHH -2000)

Chúng tôi tiếp tục lên đường, tiến về Bao Vinh, hướng nhà thầy Phó Giám Đốc họ Võ. Vừa bước vào cổng nhà cũng là lúc Thầy và Cô cùng đứa con nhỏ chuẩn bị “xuất hành đầu năm.” Ba đứa nhìn nhau ngầm ý: kiểu này là đói! Chúng tôi vội vả chúc Tết. Chưa nói hết câu thì cô hỏi:

– Các O nì, có muốn đi chùa lễ Phật và xin lộc đầu năm không? Muốn thì vô xe, còn ba chỗ trống đủ cho ba O.
Ba cái miệng đồng reo:
– Dạ, muốn… muốn… muốn…

Miệng nói, chân mau mắn theo Thầy Cô vào xe, chỉ sợ Thầy Cô đổi ý. Ở Huế lúc đó cả tỉnh chỉ có một vài người có xe hơi nhà. Thầy Phó Giám Đốc là một trong số đó. Chúng tôi được ngồi xe hơi nhà với gia đình thầy cảm nhận ấm cúng vây quanh và sung sướng vì thấy mình được coi như con cháu trong gia đình.

Thầy tự lái xe lên chùa Châu Lâm. Theo Thầy Cô, ba đứa lễ Phật hết bàn này đến bàn khác. Sau đó, trong khi Thầy Cô đàm đạo với sư Trụ Trì thì ba đưá chúng tôi dạo quanh chùa mà quên mất nỗi “buồn vào hồn…” có tên… “Nhớ Nhà.” Chùa này vào ngày Mồng Một Tết, khách thập phương đi lễ không đông lắm, và phần đông không ai ở lại ăn Cơm của Chùa, do đó chúng tôi ăn cơm chùa no bụng. Cơm chay, không cao lương mỹ vị sao mà ngon chi lạ! Lúc về nhà thầy, chúng tôi được Cô gói cho vài cái bánh chưng. Thế là ngày Mồng Một Tết được lộc của Chùa và của Thầy. Hên suốt năm.


(Cha Thích và các môn sinh VHH)

Trên đường về lại chỗ trọ, chúng tôi đến chúc Tết Cha Thích. Đến nhà Cha không lúc nào là không có bánh kẹo. Vườn sau nhà của Cha là Vườn Trẻ cha lập. Cha thuê một cô mẫu giáo để trông coi và dạy dỗ một số trẻ em. Do đó bánh kẹo không hề thiếu ở nhà Cha. Vườn Trẻ có nhà Thủy Tạ với hoa và cây kiểng rất đẹp mắt, vừa để thư giản vừa làm chỗ chơi cho đám con nít. Cha sáng tác các bài nhạc cho thiếu nhi. Lúc rảnh rổi cha chơi với trẻ và dạy cho các cháu và cả cô giáo hát. Bài:

Cái nhà là nhà của ta
Công khó ông cha lập ra
Cháu con phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà

mà chúng tôi vẫn thường hát trước đó, mãi đến khi ra Huế học mới biết tác giả là Cha Thích. Bài này Cha đem cả vào Viện Hán Học để cho đám sinh viên chúng tôi tuy “già đầu” nhưng trái tim còn… con nít hát cho vui mà bớt nhớ nhà, bớt sự căng thẳng trong học đường.

Cha có chiếc xe vận tải nhỏ, thuê tài xế đưa rước trẻ em cho Nhà Trẻ và chở Cha đi khi có việc cần. Cha cho biết vào ngày Mùng Hai đi nhà thờ La Vang, nếu chúng tôi muốn đi thì sáng hôm sau đến sớm. Thế là chúng tôi nhao nhao xin Cha cho theo. Vài anh chị em cùng quê Miền Nam nghe tin cũng xin đi cùng, ngồi chật xe.

Nhóm chúng tôi không có ai theo đạo Công giáo nên không biết kinh kệ gì hết. “Lạy Chúa con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao” cho nên vào nhà thờ, thấy ai làm gì cũng làm theo một cách kính cẩn. Đức Mẹ La Vang linh thiêng nổi tiếng nên chúng tôi không ai dại gì mà không xin Đức Mẹ đủ thứ chuyện, kể cả chuyện tình gió đã thổi bay.

Tết năm đó chúng tôi: Mồng Một có cơm Chùa, Mồng Hai được cơm Chúa. Chúng tôi được hồng ân của cả hai tôn giáo, vì đạo nào chúng tôi cũng thành tín cả. Bởi vậy suốt 5 năm học chẳng những Chúa và Phật phù hộ cho ăn học tử tế, sức khỏe dồi dào, mà còn có cuộc sống an lành.

Hôm sau lại tiếp tục… “Mùng Ba Tết Thầy” rồi Mùng Bốn, Mùng Năm cũng Tết Thầy luôn, và tiếp tục… nhận “lộc” từ gia đình các thầy.

Thầy – trò chúng tôi là như thế. Có lẽ không có ngôi trường nào có được tình thầy-trò như vậy. Người Thầy vừa là Sư vừa là Phụ. Cảm ơn ngôi trường độc nhất của Việt Nam Cộng Hòa được sinh ra do Tổng Thống Ngô Đình Diệm và chết theo Tổng Thống họ Ngô này, chỉ “sống” được vỏn vẹn 6 năm: Viện Hán Học Huế (1959 – 1965).


Những Bài Viết Khác
Thơ Bài Viết