Đặc San Xuân 2017
Dòng Sông Xưa, hình bóng cũ
Khiêm Cung

Sông Cửu Long phát nguyên từcao nguyên Tây Tạng, chảy qua Vân Nam-Trung Quốc,các nước Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cao Miên và Việt Nam. Vào đến địa phận Việt Nam, sông Cửu Long chia thành hai nhánh lớn, Sông Tiền và Sông Hậu, dẫn nước ngọt và phù sa vào khắp miền Tây Nam Phần, tạo thành Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long hết sức trù phú, ruộng lúa cò bay thẳng cánh, hoa màu xanh tươi, cá tôm thừa thãi.Nhờ đó mà đời sống dân cư miền Tây dễ dàng, thoải mái. Có thể nói dòng nước ngọt và sản phẩm của sông Cửu Long đã nuôi lớn dân miền Tây, con sông làtim mạch, là hơi thở của họ. Số phận của cư dân gắn liền với vận mệnh của con sông.


Vị trí Sông Cửu Long. Nguồn: Mekong River Map Bing.com/Image

Đồng bằng sông Cửu Long còn là vựa lúa của cả nước. Lúc sau này, lượng lúa gạo xuất cảng của Việt Nam đứng hàng thứ nhì trên thế giới, sau Thái Lan. Do đó, sự an nguy của sông Cửu Long còn ảnh hưởng lớn đến toàn thể Việt Nam và nhiều nước khác tiêu thụ gạo.

Sông Cửu Long đổ ra biển tại Việt Nam theo 9 cửa: Cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Định An, cửa Ba Thắc và cửa Tranh Đề (1). Ngày xưa, học sinh tiểu học phải học thuộc lòng tên 9 cửa này và được Thầy Cô giáo giải thích với một chút tự hào rằng các nước Miên, Lào trong khối Đông Dương thuộc Pháp, muốn vận chuyển tới lui bằng đường sông Cửu Long ra biển đều phải qua ngãViệt Nam, một nước ở hạ nguồnôm trọn 9 cửa sông đổ ra biển.


Cửa Sông Cửu Long. Nguồn: Mekong River Map/Bing.com/Image

Ngày nay mọi việc đã đổi thay, nước Việt Nam ở cuối nguồn bị chèn ép, rất điêu đứng.

Nhà cha mẹ tôi ở thị trấn An Phú, trước thuộc tỉnh Châu Đốc, nay thuộc huyện An Phú, tỉnh An Giang. Đó là nhà sàn cất đã lâu trước ngày 30/04/1975, bên bờ sông, mặt tiền ngó ra lộ, mặt hậu hướng ra sông. Nước lớn ngập chân cột mặt sau nhà. Dưới bến cha tôi có bắc một cây cầu nhỏ để đi xuống múc nước sông lên nhà xài hoặc tưới rau, tưới bông. Ở đầu cầu cha tôi thường buộc dây một chiếc ghe cà-vom. Gần đây về thăm nhà, không nhìn thấy nước sông lé đé ở dưới sàn nhà phía sau như trước đây, tôi hỏi mấy đứa cháu mới hay con sông ở phía dưới kia, cách nhà hàng trăm mét, dòng sông thu hẹp lại, nước cạn hơn trước, chánh quyền huyện cho phân lô cất nhà trên bãi đất mới.

Vì không rõ thế sự, tôi có ý trách thầm tại sao chánh quyền địa phương không cho mấy chiếc xáng múc nạo vét lòng sông để sông sâu nước chảy như ngày nào.

Mới đây tôi lại được tin vì nước sông giựt xuống thấp quá, nước biển tràn vào, làm cho đất vùng đồng bằng sông Cửu Long nhứt là bên cánh Sông Tiền, bị nhiễm mặn, mùa màng thất bác. Và đặc biệt năm nay, 2016, tháng năm mùa nước đổ, nước từ Biển Hồ chảy xuống rất trong, không thấy màu đỏ và đục của đất phù sa như mọi năm, cá tôm rất khan hiếm.

Tới khi được đọc cuốn Ký sự “Mekong (Cửu Long) dòng sông nghẽn mạch” của nhà văn-Bác sĩ Ngô Thế Vinh do anh Hai Trầu Lương Thư Trung có hảo ý gởi tặng tôi, tôi mới thấy được vì sao con sông Cửu Long bị nghẽn mạch, nghẽn ở chỗ nào. Bác sĩ đã đích thân đi lên thượng nguồn ở Trung Quốc và các nước mà con sông Cửu Long chảy ngang qua để quan sát và nghiên cứu dòng chảy của con sông và những ảnh hưởng của nó.

Trước tình hình dầu khí ngày càng cạn kiệt, bằng mọi cách, Trung Quốc đã có những dự án sản xuất điện để phục vụ sản xuất đang phát triển, như xây lò điện nguyên tử, đắp 14 đập giữ nước khổng lồ chắn ngang dòng chính trên thượng nguồn sông Cửu Long tại Vân Nam để sản xuất thủy điện. Nay mới xây xong mấy đập mà nước sông Cửu Long ở hạ nguồn đã cạn kiệt, ảnh hưởng đến nguồn phù sa, nguồn tôm cá và gây ô nhiễm môi trường ở các nước hạ nguồn.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng giúp các nước khác xây đập thủy điện tương tợ ở Thái Lan, Lào. Ngoài đập thủy điện, Thái Lan còn dẫn dòng nước sông Cửu Long rẻ sang một hướng khác để lấy nước khai thác nông nghiệp. Có tin Lào sẽ xây thêm đập nước thứ Ba là đập Pak Beng trên dòng chính của con sông Cửu Long.


Các đập nước trên song Cửu Long. Nguồn: Mekong River Map Bing.com/Image

Biển Hồ trên Cao Miên cần có nước chảy hai chiều. Vì thiếu nước, mùa lũ không có đủ nước chảy ngược về, ảnh hưởng đến nguồn cá vàcác đồng lúa của xứ Chùa Tháp. Cáở Việt Nam gốc từ Biển Hồ xuống cũng vì vậy mà bị cạn kiệt theo.

Tuổi trẻ miền Tây yêu nhau thường lấy con sông làm khởi đề cho cuộc tỏ tình hay lời hứa hẹn:

Sông sâu sào vắn khó dò,
Muốn qua thăm bậu ngặt đò không đưa.

Bây giờ:

Bây giờ sông cạn khỏi đò,
Xăn quần lội nước khỏi lo tốn tiền!

Ngày xưa:

Sông dài cá lội biệt tăm,
Phải duyên chồng vợ, ngàn năm vẫn chờ.

Bây giờ sông ngắn và cạn rồi, có lẽ phải nói lại cho hợp thời:

Dầu cho sông cạn núi mòn,
Lòng ta vẫn giữ cho tròn thủy chung.

Nói cho đỡ buồn chớ là con dân miền Tây Nam Phần, tôi cũng giống hai mươi triệu đồng bào mình ở miền này, mỗi chỗ nghẽn của con sông là một nỗi lòng quặn thắt, là một tắt nghẹn ở trái tim. Tôi thật sự xúc động muốn ghi lại một số hình ảnh sinh hoạt của gia đình và xóm giềng tôi trước kia bên dòng sông Cửu Long như để gợi nhớ những kỷ niệm lúc thiếu thời.

Nhớ ngày xưa, lúc tôi lên chín mười tuổi, cha mẹ tôi chèo chống một chiếc ghe lón trên mui có cất thêm một cái nhà đùm lợp lá, đưa các con từ Làng Bắc Nam đi sâu vào đất Cao Miên, vùng lưu vực Biển Hồ. Nơi đến đầu tiên là “Hà Rùm”đang hoạt động eo-xèo với nghề cá mắm. Chính giữa một khoảng đất rộng hàng mấy mẫu tây, có một dãy trại vách ván lợp lá của chủ thầu khai thác thủy sản cả một vùng sông nước, gọi là ông “Xa-viên”, hai bên trại người ta đổ xác cá linh phơi khô cao như những cái đồi đất thấp, sẵn sàng để chở bằng ghe đi bán cho nhà nông làm phân bón, mùi hăng hăng của cá linh phơi khô bốc lên rất khó chịu, ruồi lằng màu xanh đen vừa bay giăng giăng chung quanh các đống phân cá vừa phát ra những tiếng kêu vo ve điếc tai. Lại gần đống phân cá, tôi phát rùng mình vì giòi bọ lúc nhúc.

Một con rạch phía trước trại, nước chảy xiết, người ta đóng đáy bằng cách dựng dưới nước một cái bửng ngang và dừng những tấm phên tre gọi là đăng để chặn bít lối đi của cá, chỉ còn chừa một khoảng trống để gắn lưới của miệng đáy để cho cá đi theo dòng nước chui vào lưới để vào một cái giỏ bằng tre đan có đít nhọn bít lại, gọi là cái đụt. Cứ khoảng nửa tiếng đồng hồ, cái đụt được kéo lên để đổ cá ra. Cá nhỏ có, cá lớn có. Cá lớn hầu hết là cá bông (hình dạng giống cá lóc nhưng trên mình cặp theo hai bên xương sống có vảy lấm tấm màu đen nên dân quê gọi là cá bông để phân biệt với cá lóc), trung bình cỡ bắp chân. Một lần nọ một con cá bông lớn bề tròn khoảng bằng cái khạp đường kính sáu bảy tấc, gọi là cá bông gấm. Chủ thầu nói là cá của Ông Bà Tà, không dám làm thịt mà cho rộng lại để chờ quay con heo làm lễ cúng tạ lỗi với Ông Bà Tà và thả con cá đi. Rồi một hai ngày sau rất nhiều cá bông chạy vào đáy đến bửa đụt. Đó là trường hợp cá vô nhiều quá, đầy đụt, tràn ra ngoài miệng đụt, làm rách lưới. Người ta nói Ông Bà Tà linh thiêng đã phò hộ cho chủ thầu đã phóng sanh con cá lớn của Ông Bà Tà.

Ngay buổi chiều hôm đến Hà Rùm, mẹ và hai chị tôi bắt đầu làm cá ngày đêm giùm cho chủ thầu, không có lãnh tiền công, nhưng bù lại, được lấy đầu và ruột cá để làm mắm, gọi là mắm đầu cá và mắm ruột cá. Ban đêm có đèn măng-sông (manchon) hay đèn khí đá sáng rực. Đèn măng-sông thắp bằng dầu hôi, dầu được đựng trong một cái bình ở dưới cùng của cái đèn, bên hông có cái bơm để bơm dầu, trong cái đèn có cái tim đèn bằng chỉ đan màu trắng, chung quanh cò kiếng che gió. Bơm bình cho dầu phun lên ướt tim đèn và bật ngọn lửa, cái tim vải phình ra, cháy sáng, màu trắng giống như bóng đèn huỳng quang. Còn đèn khí đá có 2 ngăn bằng sắt hay đồng, ngăn dưới chứa khí đá cục, tức là khí a-cê-ty-len (acetylene). Ngăn trên đựng nước. Có một cái chốt để mở nước ở ngăn trên từ từ nhỏ giọt xuống ngăn dưới. Nước làm cho các cục khí đá biến thành khí a-cê-ty-len bốc lên đi qua một cái ống thông ở đầu có cái “béc” xì hơi khí đá ra, gặp lửa mồi bốc cháy thành ngọn đèn sáng. Đèn măng-sông cháy sáng hơn đèn khí đá. Sinh hoạt ở Biển Hồ tất bật lắm.

Biển Hồ cực lắm ai ơi,
Ban đêm xẻ cá, ban ngày phơi khô.


Đèn Măng-sông hiệu Aida( Aida lamp). Đèn khí-đá (Acetylen lamp). Nguồn:Bing.com/Image

Tôi còn con nít, thật là vô tư, vui thú với những trò chơi bắt tôm cá, chim cò. Tôi thường đi dọc bờ sông dùng chĩa ba để xom tôm cá. Tôm càng màu xanh bò từ từ trên đám rong bên bờ rạch, trưa nắng cá trê gá đầu trên mí nước để thở, con cá leo dẹp, bề bản cả tấc, đang uốn mình, vẩy đuôi bơi lội nhởn nhơ, chỉ cần phóng một cây chĩa là được một con tôm hay một con cá. Thỉnh thoảng tôi bị đỉa đeo ở cườm chân, phải lấy vôi ăn trầu trét lên con đỉa, nó co rúm lại và rớt ra khỏi cườm chân tôi.

Ở xứ cá có nhiều chim cò. Tôi thường làm bẫy mổ hay bẫy đạp để bắt cò. Ở loại bẫy mổ, con cò chỏ mõ qua một cái vòng để bắt con cá mồi đang lội trong nước, cái cần của bẫy bị lay động, bật lên, làm siết cổ con cò. Còn loại bẫy đạp thì lấy cây cỏ che chắn, chỉ chừa một chỗ hẹp có để một cái bàn đạp bằng tre, con cò đi qua chỗ hẹp này phải đạp lên cái bàn đạp, cái cần bẫy bị lay động, bật lên, giựt cái vòng đặt trên cái bàn đạp siết lại, buộc chân con cò.

Các loài trăn, rắn cũng nhiều. Rắn hổ đất nấu cháo đậu xanh, da rất giòn, thịt xé phay trộn với củ hành, rau răm ngon hơn thịt gà. Thịt trăn hầm với đậu phọng ngọt tuyệt vời. Bắt trăn, bắt rắn là chuyện của người lớn. Trăn thường thường ẩn mình dưới nước hoặc quấn trên cây để rình bắt mấy con chim trích, là loại chim có mồng đỏ, chân cao cũng màu đỏ, lông xanh đậm. Khi bị con trăn vồ, đàn chim trích bay lên. Khi thấy có đàn trích chập chờn bay lên đáp xuống, bay lên đáp xuống, người ta biết nơi đó có con trăn, đến đó để tìm bắt nó.

Tôi cũng học cách của người Miên sấy cá trèn, cá kết bằng cách đào đất thành một cái lò có nhiều cái vỉ bằng tre xếp thành nhiều từng. Cá được xỏ xâu ở đầu, đuôi thì ốp vào nhau, gắp cá có hình dáng như nải chuối. Chụm lửa bằng nhánh cây để vừa có than, vừa có khói. Cá ở vỉ dưới chín trước, đổi lên từng trên, vỉ trên đổi xuống dưới. Cá chín thì chỉ còn để lửa riu riu, cá khô ráo, màu vàng sậm và thơm mùi khói, gọi là cá sấy có thể tồn trử lâu ngày không hư. Cá sấy chắm với nước mắm me chín hay trộn gỏi với dưa leo, lá “sầu-đâu” ăn rất ngon.

Sông nước vùng Biển Hồ thường có nhiều khúc dầy đặc lục bình, đi xuồng phải lấy dầm rẽ lục bình ra hai bên để có đường nước cho xuồng đi qua. Ở trong rạch Miên chỉ có những loại bánh làm bằng bột trái thốt lốt hoặc bột cây dè, bào từ ruột cây dè, đem ngâm nước cho tan thành bột có màu tim tím. Vì nước ngập khó trồng mía, nên đường được làm bằng nước thốt lốt. Ngoài công việc cá mắm, mẹ tôi còn làm những thứ bánh Việt Nam để bán. Nhớ có lần nọ nước ngập, chuối cây chết hết, mẹ tôi lấy lá lục bình đậy ủ cơm rượu, cơm rượu chua lè.


Lục bình. Nguồn: Bing.com/Image

Đất thấp dễ bị ngập, nên ở rạch Miên, nhà có sàn rất cao hoặc nhà bè.

Thuở đó, người ta tổ chức bắt cá rầm rộ lắm. Giăng lưới từ bờ bên này sang bờ bên kia con rạch. Lưới di chuyển dần dần để lùa cá, một số thanh niên lực lưỡng lấy cái chày dộng rầm rầm dưới nước, nhứt là ở phía dưới sàn các nhà bè để đuổi cá, cá chạy ra thì bị lưới lùa, đến một nơi nào đó, lưới được ráp lại thành một vòng khép kín, cá gom được vô số.


Nhà bè và lục bình. Nguồn: Galatourist-Chaudoc.com

Ở rạch Miên hơn một năm, qua các địa danh mà tôi nhớ mang máng theo phiên âm là “Sô-Nô”, “Sà-Nách”, “Lét-Đét”..., cha mẹ tôi đã xuôi theo dòng nước đổ đục ngầu, cuốn theo phù sa, tôm cá, lục bình, chèo chống chiếc ghe lón trở về Việt Nam. Trên ghe có chở theo nhiều cá khô, như khô cá lóc, khô cá sặt bổi; mắm đầu cá, mắm ruột, mắm cá lóc, cá trèn...Đây là số mắm và cá khô còn lại sau khi cha mẹ tôi đã bán cho thương lái lên tận Miên mua tại chỗ.

Theo dòng chảy của Sông Cửu Long chúng ta trở về thăm lại Vùng Đồng bằng miền Tây yêu dấu. Vùng này luôn màu mỡ là nhờ hàng năm có lớp phù sa từ thượng nguồn đưa xuống, phủ dày lên lớp đất cũ, giúp cho lúa tốt tươi, cây trái sai quằn. Tác giả Hai Trầu-Lương Thư Trung với hoài cảm quê hương thắm thiết và với trải nghiệm phong sương trong nghề nông, đã ghi lại rất chi tiết Mùa Màng Ngày Cũ, các mùa lúa, các mùa trái cây, các mùa thủy sản. Tác giả là chứng nhân về sự trù phú do dòng Sông Cửu Long ngày xưa đã đem lại cho vùng đồng bằng miền Tây. Nếu không có trí nhớ dai, nếu không đi quan sát nhiều nơi của một vùng miền Tây rộng lớn, nếu không có kinh nghiệm thực hành và nếu thiếu vắng tình quê thì tác giả không ghi lại được bao nhiêu Mùa Màng Ngày Cũ thật giá trị như một cẩm nang. Thử đọc về Mùa Lúa Sạ trong cuốn sách này, bạn sẽ thấy kinh nghiệm thực hành rất thiết yếu, một kỷ sư nông nghiệp, mới ra trường Nông Lâm Súc Sài Gòn, còn thiếu kinh nghiệm thực hành, đã làm thất bát lớn một mùa lúa sạ. Hãy đọc Mùa Màng Ngày Cũ của Tác giả Hai Trầu-Lương Thư Trung để thấy rõ hơn những lợi lạc mà dòng Sông Cửu Long đã đem đến cho miền Tây Nam phần như thế nào.



Vùng Châu Đốc, Long Xuyên quê tôi, thuở xa xưa mỗi năm chỉ canh tác một mùa lúa sạ, tương đối nhàn hạ, khỏi phải gieo mạ, cấy lúa như các vùng khác, phân bón là đất phù sa, nước thì trông vào mưa và do Sông Cửu Long cung cấp. Do đó mà kết quả lúa thu hoạch phần lớn tùy thuộc vào thời tiết và mực nước Sông Cửu Long. Nước dâng cao, lúa lên theo. Nước lên nhanh quá, lúa lên không kịp thì nước ngập phủ ngọn, lúa bị lút, thất mùa.

Vùng đồng bằng Sông Cửu Long vườn tược tốt tươi, trái cây ngon đủ loại như xoài, mận, ổi...v.v., còn về rẫy bái thì“Ngó lên đám bắp trổ cờ, đám dưa trổ nụ, đám cà trổ bông”.

Còn về tôm cá và các loại thủy sản quá dồi dào, mặc dầu không nhiều bằng vùng Biển Hồ trên Miên. Cá ăn không hết phải làm mắm, làm khô. Châu Đốc còn được gọi là Xứ Mắm hay Xứ Cá. Du khách từ các miền khác đến Châu Đốc thường mua mắm cá lóc thái, mắm ruột làm bằng ruột cá béo ngậy, mắm cá sặt, cá trèn; khô cá lóc, cá sặt bổi, cá kìm (còn gọi cá nhái)...đem về làm quà cho gia đình.

Thương buôn chở cá đi Sài Gòn bán bằng chiếc ghe đụt, hai bên hông chiếc ghe lớn không có vừng ván, mà đóng bằng lưới sắt, nước sông ra vào ghe thông thương, cá rộng trong đó sống khỏe như ở trong nước sông. Chiếc ghe đụt không bị chìm là nhờ có hai tấm bửng bằng ván ở khoang ghe trước mũi và sau lái được bít kín, nước không vào được, làm phao nổi cho chiếc ghe.

Còn có những chiếc ghe chài chở cá linh giao bán cho các hãng làm nước mắm.

Nhớ ngày xưa cư dân miền Tây gọi tên các mùa nước khác với bây giờ. Xưa gọi “nước đổ”, bây giờ là “nước lũ”, xưa gọi “nước lên, nước nổi hay nước lớn”, “nước ngập”, nay là “nước lụt”. Ở Nam phần nói chung, ngày xưa nói “nước lụt” khi nào nước đột ngột dâng cao thật nhanh và rút cũng thật nhanh, như trong từ ngữ “ năm thìn bão lụt”.

Ở miền Tây khoảng tháng Năm ta, mùa nước đổ, nước đục từ trên nguồn đổ xuống rồi dâng lên từ từ . Khoảng tháng Bảy ta nước bò lên tới mé đường, rồi tràn lên mặt đất, mực nước lên cao mỗi ngày chừng một hai tấc, sau cùng cao hơn mặt đất cả thước tây, phù sa lắng xuống, nước trong vắt và chảy xiết vô đồng. Nhìn qua nước trong, bạn sẽ thấy đàng này là bầy cá ròng ròng đang tung tăng bơi lội thành luồng chung quanh đám cỏ chìm sâu dưới nước, ngọn phất phơ theo chiều nước cuốn vô đồng. Đàng kia mấy con cá lia thia màu xanh đậm, kỳ đuôi màu đỏ đang luồn lách nơi mấy cụm rong. Đẹp làm sao cảnh thiên nhiên ấy!

Mùa nước ngập có nhiều ốc bươu nổi lều bều trên mặt nước phía sau đồng, có thể vớt đem về luộc hoặc nướng hay xào gừng. Mùa đó cũng có nhiều chuột đồng làm ổ trong các lùm tre, xom đem về rô-ti thơm phức.

Cho tới tháng 9 ta nước mới rút từ từ, gọi là “nước giựt”, cá tôm nhiều lắm. Các bạn ở nơi khác chắc khó tin những chuyện nho nhỏ về bắt cá, bắt ốc ở miền Tây Nam phần.

Mẹ tôi thường dùng cái rổ rất lớn, gọi là rổ bọng, tay trái dìm cho miệng rổ chìm dưới mặt nước độ một tấc, tay mặt cầm một nắm cá đã nấu chín làm mồi, dệu dệu dưới nước trong miệng rổ, cá lòng tong, cá thiểu bu lại, nhảy xoi xói giành ăn mồi, mẹ tôi lẹ làng nâng rổ lên khỏi mặt nước để vớt cá đổ vô xuồng. Cá lòng tong nhúng bột chiên, kèm với rau sống, cá thiểu kho để chút tóp mỡ, ăn rất được cơm.

Cô Sáu, em ruột của cha tôi có biệt tài bắt cá bằng tay. Tay trái cô dệu cá mồi nấu chin, cá chốt nhoi lên quơ râu trên mặt nước để ăn mồi, Cô Sáu tôi nắm râu cá chốt bằng tay phải thẩy vô xuồng. Cá chốt kho sả ớt hoặc làm mắm ăn rất ngon.

Lớn lên, tôi ra tỉnh học, ở trọ nhà bè của người Dì ruột đậu ở Vàm Kinh Ông Cò, cạnh chợ Châu Đốc. Dưới nhà bè có dồn tre để làm cho nhà bè nổi trên mặt nước, lâu ngày tre bị đóng rong. Có anh Ngàn ngày nào cũng mặc quần xà lỏn, ở trần, mang cái giỏ tre có nắp đậy, lặn dưới bè, đưa hai bàn tay ép con cá rô để bắt, chẳng bao lâu cá đầy giỏ.

Tôi cũng bắt cá bằng cách gom nhánh cây nhỏ, bó lại 3 nuộc thật chặt, buộc một sợi dây ở đàng đầu bó chà vào cột cầu, ngâm bó chà dưới nước. Chiều chiều sau khi bắc nồi cơm lên bếp, tôi ra đầu cầu kéo thật nhanh bó chà lên mặt đất, cá rô, cá chạch, cá heo... mắc kẹt trong đó nhảy xoi xói trên mặt đất, dư giả cho hai bữa cơm chánh trong ngày.

Đi mót lúa cũng có đủ gạo ăn, tôm cá dễ bắt, rau trái dễ trồng, gom nhánh cây khô về làm củi, nước sông thanh khiết, vô tận, cư dân đồng bằng Sông Cửu Long cần gì phải bon chen? Nhưng cuộc sống dễ dàng ấy bây giờ không còn nữa.

*
* *

Trung Quốc tự đề ra phương châm 16 chữ vàng “ổn định lâu dài, hướng tới tương lai,hữu nghị láng giềng, hợp tác toàn diện” và bốn tốt “láng giềng tốt, bạn bẻ tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” trong mối quan hệ với Việt Nam. Viên chức cao cấp của hai nước gặp nhau tỏ tình thân hữu thắm thiết, ôm bên phải, ôm bên trái, vỗ lưng bồm bộp gần như đến giập phổi, nhưng vì “giấc mơ Trung Hoa”, kỳ quyết giữa thế kỷ thứ 21 phải hoàn tất cuộc phục hưng vĩ đại, Trung Quốc không từ bỏ một thủ đọan nào để chiếm đất, lấn biển Việt Nam, ngăn sông Cửu Long làm cho nguồn nước bị cạn kiệt, ô nhiễm môi trường, tiêu diệt tài nguyên của nước anh em bốn tốt ở hạ nguồn.

Nhà văn-Bác sĩ Ngô Thế Vinh đã viết:

“Cho đến nay rõ ràng là không có giải pháp nào để cứu lấy dòng sông khi mà mọi quốc gia trong khu vực-nhất là Trung Quốc, chỉ muốn tự do khai thác con sông theo ý mình chỉ để phục vụ cho quyền lợi ngắn hạn cục bộ-cả theo ý nghĩa hủy hoại, mà bất kể tới hậu quả dây chuyền ảnh hưởng tác hại tới các quốc gia láng giềng và về lâu về dài, tới sinh mệnh của cả một dòng sông ra sao”.(3)

Thưa Bác sĩ, có phải con sông Cửu Long đang hấp hối, có phép lạ nào giúp cho dòng sông thân yêu của người dân Việt Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng được hồi sinh hay không?

Tôi mong mỏi bài viết này không phải là lời chào tiển biệt Dòng Sông Xưa ngập tràn hình bóng cũ mến thương.

Khiêm Cung
Sydney, đầu Xuân 2016

(1) 9 cửa Sông Cửu Long:


Bên Sông Tiền: Đổ ra biển bằng 6 cửa:

Cửa Tiểu (1) của Sông Tiểu, Cửa Đại (2) của Sông Đại trên địa phận Mỹ Tho, Gò Công;
Cửa Ba Lai (3) của Sông Ba Lai trên địa phận Bắc Bến Tre;
Cửa Hàm Luông (4) của Sông Hàm Luông trên địa phận Nam Bến Tre;
Cửa Cổ Chiên (5) và cửa Cung Hầu (6) của Sông Cổ Chiên, nằm ngay ranh giới của tình Bến Tre và Trà Vinh;

Bên Sông Hậu: Chảy ngang qua Châu Đốc, Long Xuyên (An Giang), Cần
Thơ, Sóc Trăng và đổ ra biển bằng 3 cửa: Cửa Định An (7), Cửa Ba Thắc (8), cửa Tranh Đề (9). Trong thập niên 1970, cửa Ba Thắc bị bồi lắp, nên Hậu giang chỉ còn 2 cửa Định An và Tranh Đề.

(2) Hai Trầu-Lương Thư Trung-Mùa Màng Ngày Cũ-Tái bản lần thứ nhất 2015-Trang 59-Mùa Lúa Sạ.
(3)Ngô Thế Vinh-Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch-Tái bản lần thứ I-Nhà xuất bản Văn Nghệ Mới 2007.

PHỤ LỤC

CA DAO VÀ CÂU HÁT HUÊ TÌNH
NƠI XỨ CÁ


Sưu tầm: Khiêm Cung
(Trang nhà thatsonchaudoc.com đăng nơi Trang Thơ ngày 07/09/2005)

Biển Hồ cực lắm ai ơi,
Ban đêm xẻ cá, ban ngày phơi khô.

Ví dầu cá bóng hai hang,
Cá trê hai ngạnh, tôm càng hai râu.

Rủ nhau xuống biển bắt cua,
Bắt cua cua kẹp, bắt rùa rùa bơi.

Má ơi con vịt chết chìm,
Con thò tay vớt nó, con cá kìm cắn tay con.

Cá không ăn muối cá ươn,
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

Buổi chợ đông con cá hồng anh chê lạt,
Buổi chợ tan rồi, con tép bạc anh khen ngon.

Cá rô ăn móng gợn sóng thềm đìa,
Cha mẹ phân chia đừng lìa mới phải,
Anh nỡ lòng nào phụ rảy tào khang.

Sông dài cá lội biệt tăm,
Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ.

Trách ai đặng cá quên nôm,
Đặng chim bẻ ná, quên ơn vội thù.

Chim quyên ăn trái nhãn lồng,
Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi.

Tiếc công xúc tép nuôi cò,
Cò ăn cho lớn cò dò lên cây.

Uổng công lao anh đào ao thả cá,
Năm bảy tháng trời người lạ đến câu.

Chừng nào đá nát vàng phai,
Biển hồ lắp cạn mới sai lời thề.
Trăm năm lòng gắn dạ ghi;
Dẫu ai đem bạc đổi chì cũng không.
Quạ kêu nam đáo nữ phòng,
Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương.
Chỉ điều ai khéo vấn vương,
Mỗi người mỗi xứ mà thương nhau đời.

Tiếc công anh đắp đập coi bờ,
Để ai quẩy đó mang lờ tới nôm.

Cây trên rừng hóa kiểng,
Cá dưới biển hóa long.
Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong,
Anh đi lục tỉnh giáp vòng,
Đến đây trời khiến đem lòng thương em.

Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc,
Cá bã trầu lội tuốt mương cau.
Đâu anh đối thử cho mau,
Em đây chịu khó đứng hầu lóng nghe.

Con cá lưỡi trâu sầu ai méo miệng,
Con cá trèn bầu nhiều chuyện trớt môi.

Rủ nhau xuống biển mò cua,
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng.
Em ơi chua ngọt đã từng,
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.

Nước chanh giấy rưới vào mắm mực,
Rau mũi viết trộn lộn giấm son,
Bốn mùi hiệp lại càng ngon,
Cũng như qua gần bậu, chẳng còn nhớ trông.

Quần lủng đáy đi đâu xớ rớ,
Áo rách te nói chuyện bốc chài.
Thế gian em thấy thương hoài,
Hễ ăn được cá tính bài bỏ nôm.

Chiều chiều ông Lữ đi câu,
Cá lôi ông Lữ nhào đầu xuống sông.

Chiều chiều ông Lữ đi đăng,
Cá tôm nhảy hết nhăn răng cười hoài.

Đạo cang thường như cá với tôm,
Đã mua mớ nọ lại chồm mớ kia.

Gió đưa gió đẩy
Về rẫy ăn còng,
Về sông ăncá,
Về đồng ăncua.

Con cò xanh nhảy quanh hòn đá,
Chờ nước cạn ăncá ăn tôm.

Ba phen quạ nói với diều,
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm.

Chồng chài vợ lưới con câu,
Sông Ngô, bể Sở tối đâu là nhà.

Sông dài cá lội biệt tăm,
Người thương đâu vắng chỗ nằm còn đây?

Tay anh đốn ráng thả đìa,
Một mai con cá cựu biết về tay ai?

Má ơi đừng đánh con hoài,
Để con câu cá nấu xoài má ăn.

Cá lên khỏi nước cá khô,
Làm thân con gái lõa lồ ai khen.

Chèo ghe sợ sấu cắn chưn,
Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma.

Con cá đối nằm trên cối đá,
Con chim đa đa đậu nhánh đa đa,
Anh bảo em lấy chồng gần, đừng lấy chồng xa.
Mai sau cha yếu mẹ già,
Chén cơm đôi đủa, kỷ trà ai dưng ?

Cô kia bới tóc cánh tiên,
Ghe bầu đi cưới một thiên mắm mòi.
Không tin dỡ thử lên coi,
Rau răm ở dưới mắm mòi ở trên.

Ngó lên trời thấy cặp cu đương đá,
Ngó xuống biển thấy cặp cá đương đua,
Đi về lập miễu thờ vua,
Lập trang thờ Mẹ, lập chùa thờ Cha.
Ơn Cha nặng lắm cha ơi,
Nghĩa Mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.

Từ ngày ăn phải miếng trầu,
Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu.
Biết là thuốc dấu hay là bùa yêu,
Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa.
Làm cho quên mẹ quên cha,
Làm cho quên cửa quên nhà,
Làm cho quên cả đường ra lối vào.
Làm cho quên cá dưới ao,
Quên sông tắm mát, quên sao trên trời.”


Những Bài Viết Khác
Thơ Bài Viết