Đặc San Xuân 2016
An Giang Qua Mấy Vần Ca Dao
Những Bài Viết Khác
BS Phan Giang Sang
An Giang là một tỉnh xinh đẹp, sạch sẽ, phì nhiêu và trù phú, nhứt là tỉnh Long Xuyên hoàn toàn thanh bình như không có chiến tranh trong suốt thời chiến Miền Nam trước 75. An Giang giàu có vì nằm giữa hai nhánh sông Tiền và Hậu của dòng sông Cửu Long từ Cao Miên chảy qua, với hệ thống kinh rạch lưu thông chằn chịt, chất phù sa rửa sạch phèn chua làm cho đất đai mầu mỡ. Nó không những chỉ có những cánh đồng ruộng bao la, mà còn có cá tôm đầy đồng, đầy sông rạch, hoa mầu, thổ sản khắp nơi.
Sau năm75, nó được đổi thành Long Châu Hà, tức Long Xuyên, Châu Ðốc và Hà Tiên. Nhưng chỉ vài năm sau, nghe không ổn nên đổi lại tên cũ là An Giang. Hiện nay, hai tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên kết hợp lại thành tỉnh An Giang.
CHÂU ÐỐC
Châu Ðốc là tỉnh biên giới Việt Miên, có nhiều nguồn lợi kinh tế tại Tân Châu, Hồng Ngự. Cũng vì sát với Miên, nên có nhiều người Miên hiền lành, theo đạo Phật, sanh sống, hài hòa với người Việt mình. Một sự hòa hợp tâm tình thế nào cũng xẩy ra giữa hai dân tộc. Theo nhà văn nữ Bút Trà thì sự hòa hợp dị chủng nầy tạo ra nhiều thiếu nữ duyên dáng đẹp đẽ kỳ lạ, nhứt là lai Việt-Miên-Tàu. Và đây:
Châu Ðốc có vùng núi non hiểm trở, gồm bảy ngọn không cao, không lớn không hùng vĩ như dãy Trường Sơn như ta tưởng.
Tuy vậy Thất Sơn rất đẹp, vẻ đẹp nên thơ kỳ lạ. Ðẹp nhứt là lúc chiều tà, lúc mặt trời từ từ xuống, những tia ánh sáng vàng rực rở chiếu xuống, lơ thơ đó đây vài cây thốt lốt, lác đác đàn nhạn thơ thẩn bay về tổ, tạo nên bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ, không thua những bức tranh Tàu.
Tuy vậy vùng bảy núi lại rất hiểm trở, huyền bí linh thiêng, bởi nơi đây có nhiều am, đền, chùa chiền kỳ bí, tôn giáo lạ lùng, chánh đạo cũng như tà đạo như đạo bay. Người theo đạo bay tin là muốn bay được thì phải giết ít nhứt ba người. Vào thời 1950, lúc tranh tối, tranh sáng, có nhiều người bị chết oan uổng vì tín đồ đạo bay. Sự kiện nầy đã làm cho dân sống gần vùng Thất Sơn hoang mang không ít
Nói tới Thất Sơn (bảy núi) huyền hoặc là nói tới chém giết, bùa ngải làm ai cũng phải sợ. Tại sao, bởi vì xưa kia, hể ai trốn sâu lậu thuế, tù tội, nhứt là người làm cách mạng chống Pháp, cứ chạy lên đây trốn. Núi không cao nhưng có nhiều hang động dễ trốn khi Tây ruồng bố ráp. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ có dội bom, cả bom Napal cũng trớt quớt, không lọt vô hang được.
Bảy Núi là nơi ẩn trú của những tay anh hùng tứ xứ, trôi giạt về đây. Họ là thành phần phức tạp, tạp nhạp như trốn nợ, trốn thuế, giết người, ngoài vòng pháp luật. Họ cũng có thể là người thường dân, yêu quê hương đất nước, đứng lên chống cường hào ác bá phản quốc, nhứt là bọn Lang Sa thực dân hại dân, hại nước. Họ lẩn trốn vì bị chánh quyền truy nã.
Ông chính là người chèo ghe, ngao du khắp nơi, rao giảng bằng ca dao, giả điên giả dại, khù khờ để dạy đời. Ông là nhà cách mạng lâu đời và cũng là người sáng lập ra Bửu Sơn Kỳ Hương (BSKH) năm 1848, lấy từ:
Tên thật của Ðức Thầy Tây An là Ðàm Minh Huyền, nhưng hiện nay có nhiều giả thuyết của các nhà nhiên cứu, và cả ông Hồ Hữu Tường, cũng cho ông là Hoàng Tử Nguyễn Quang Mục, con của vua Quang Trung Nguyễn Huệ và công chúa Ngọc Hân, vì sợ bị vua Gia Long tìm giết, nên trốn vào Nam ẩn náu. (1)
Ðèn Châu Ðốc
Ca dao Châu Ðốc rất nhiều, nhưng thường hay lấy chủ đề đèn và dốc. Ðèn Châu Đốc được ví von qua:
Thời ông Thoại Ngọc Hầu và nội tướng của ông là bà Châu Thị Tế (bà Vĩnh Tế), ra sức đào con kinh nối liền Châu Ðốc với Vịnh Xiêm La và Hà Tiên, chớ đâu có máy ngắm để phóng đường như ngày nay. Vào thời đó vùng nầy còn hoang vu rừng rậm, thì làm sao mà phóng cho ngay thẳng được, nên ông cho đốt đuốc ban đêm để ngắm. Kinh được đào trong năm năm trời mới hoàn thành (1820 - 1824). Ðây là một kỳ công của Ông Bà Thoại Ngọc Hầu.

Kinh đào không những mang lại tiện nghi lưu thông bằng đường thủy hay bộ, vì đất đào bỏ lên đấp lộ, mà còn giúp việc phòng thủ biên thùy Việt - Miên. Cái chánh của nó là mang nước phù sa tưới lên đồng ruộng, rửa phèn chua cho lúa tươi xanh, vườn cây trái sum sê, mầu mỡ, đem lại biết bao nhiều huê lợi, cá tôm trù phú, giàu có cho dân lành.
Do công lao đó, vua Minh Mạng mới ban cho tên Kinh Thoại Ngọc Hầu sau đổi lại là Kinh Vĩnh Tế, tên của nội tướng của ông. Vì kinh đào là do công lớn của bà Thoại Ngọc Hầu, cho nên mới đổi sang tên bà cho nó công bằng. Câu nói ‘Của chồng công vợ’ theo đạo lý thời xưa có vẻ hơi bất công, mà phải là ‘của vợ công chồng’ như trường hợp của Bà Thoại Ngọc Hầu, mới đúng.
Và đây là bài vè của cụ Huy Vũ ghi lại công trình đào kinh Vĩnh Tế, như sau:


Còn câu nầy:
Dòng sông Cửu Long chảy vô Biển Hồ, rồi tới Châu Ðốc chia thành hai nhánh sông, sông Tiền và sông Hậu. Người mình ở Tịnh Biên, Tân Châu vượt sông qua Nam Vang làm ăn, sinh sống ở Biển Hồ bằng nghề đánh cá. Cá lớn nhiều quá ăn không hết phải làm cá khô, làm cá mặn để dành. Ở lâu buồn nên họ lập gia đình sinh sống, cho nên có câu:
Châu Ðốc có những món ăn nổi tiếng khắp vùng, không thể quên được là mắm ruột hoặc mắm thái ngon đáo để:
Miếu Bà Chúa Xứ ở núi Sam rất linh thiêng, nên hằng năm vào ngày vía Bà, 23-24 tháng Tư Âm lịch, không biết bao nhiêu người tứ xứ tấp nập về đây cúng kiến, cầu xin tài lợi, công danh. Ngày vía Bà Chúa rất vui nhộn, có đồng bống tựu tập về biểu diễn, cúng kiến múa ca nhộn nhịp, khói nhang mù mịt. Miếu được xây dựng vào năm 1870. Ðến năm 1972 được tu bổ lại rất đồ sộ, mà vẫn không đủ cho số người đến chiêm bái.
Ðạo Hòa Hảo
Trước khi kết thúc đoạn Châu Ðốc, xin nói thêm chút về Ðạo Hòa Hảo. Khi tiếp nối sự nghiệp của Ðức Thầy Tây An, Ngài Huỳnh Phú Sổ mới dời về quê mình ở làng Hòa Hảo, Tân Châu và lấy tên là Phật giáo Hòa Hảo (1939). Ngài tiếp nối việc tu hành và chủ trương việc canh tân đạo pháp.

Cũng vì đạo Hòa Hảo chủ trương lấy tứ ân làm trọng và 21/9/46 Ngài thành lập đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Ðảng, gọi tắt thành Dân Xã Ðảng để lồng chính trị hóa vào lòng nhân dân hầu phục vụ nước nhà. Như vậy Ngài chủ trương đấu tranh lồng trong đạo pháp dễ thu hút nhân tình. Các tín đồ kỳ cựu điều thuộc nằm lòng mấy câu sau đây:
Cả Miền Nam nằm trong biển lửa, không ít thì nhiều đâu đâu cũng có súng nổ, chỉ riêng Long Xuyên là không hề có dấu vết chiến tranh tàn phá, kể luôn Tết Mậu thân 1968. Thật là kỳ diệu!
Tại sao, bởi vì Mười Trí, sư thúc (?) của Ðức Thầy đem quân từ Cao Lãnh tấn công 7 ngày đêm không vô được Long Xuyên.
Long Xuyên trù phú, sạch sẽ nhứt các vùng khác vì nó có dòng sông An Giang uốn khúc qua đồi núi, tưới chất phù sa mầu mỡ cho ruộng vườn tươi xanh, tô điểm thêm vẻ đẹp mỹ miều, huyền ảo. Nó đã cảm hóa thi nhân, nhạc sĩ Anh Việt Thu tạo nên khúc nhạc tuyệt vời: ‘Dòng An Giang’ để đời!
Long Xuyên trù phú, cá tôm đầy sông, rạch, ruộng vườn (Muốn biết thêm xin xem bài ‘An Giang trong tim tôi’, Tuyển tập PGS I, tr 297-305):
Cứ vào tháng Mười, mùa cá dại, tha hồ mà vớt cá dưới sông. Chỉ cần bơi xuồng ba lá ra sông, lấy vợt mà vớt lá linh, cá rói, cá lòng tong từ sáng tới chiều cũng có vài vạ cá. Cá bắt được đem về gài mắm, làm nước mắm nhỉ để ăn quanh năm, không tốn đồng nào hết. Ruộng vườn làm bằng máy cày, máy đập, nhà nhà đều có TV, máy đuôi tôm, đủ thấy sự giàu sang của Long Xuyên.
Tại sao kêu là cù lao Ông Chưởng?
Bởi vì chính nơi đây, dòng sông Cửu Long có nhiều cồn nổi lên, lát và cây bần mộc lên, chất phù sa vung bồi thành cù lao, dân chúng tụ tập, đến sinh sống, lập nhiệp.
Sau khi quân Chúa Nguyễn đem quân giúp vua Miên dẹp loạn trở về, nghỉ dưỡng quân trên cù lao bỗng bị nạn dịch. Trong số nầy có phó tướng của Thoại Ngọc Hầu là Chưởng Binh Lễ. Nhưng vì kị húy, nên chỉ gọi là ông Chưởng.
Chuyện tình cảm nam nữ
Lúc còn nhỏ khi thấy cây điên điển là tôi ghét, và có ý nghĩ xấu, bơỉ vì chỗ nào có nó là đất xấu, làm ruộng không trúng mùa. Tôi tưởng đúng, thật ra là sai. Vì chặt cây điên điển đi, rễ nó mục rả ra nhanh lắm, làm phân rất tốt cho loại đất hết mầu mỡ nầy.
An Giang có rất nhiều nhân tài trong đó ông Nguyễn Ngọc Thơ, làm Phó Tổng Thống dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Trung Tướng Lê Quang Vinh, tức ba Vinh, hoặc Tướng Ba Cụt
Chú thích
(1) Ðặng Minh Quân: Bửu Sơn Kỳ Hương, Nghiên Cứu Văn hóa ÐNCL số 6, trang 114
An Giang là một tỉnh xinh đẹp, sạch sẽ, phì nhiêu và trù phú, nhứt là tỉnh Long Xuyên hoàn toàn thanh bình như không có chiến tranh trong suốt thời chiến Miền Nam trước 75. An Giang giàu có vì nằm giữa hai nhánh sông Tiền và Hậu của dòng sông Cửu Long từ Cao Miên chảy qua, với hệ thống kinh rạch lưu thông chằn chịt, chất phù sa rửa sạch phèn chua làm cho đất đai mầu mỡ. Nó không những chỉ có những cánh đồng ruộng bao la, mà còn có cá tôm đầy đồng, đầy sông rạch, hoa mầu, thổ sản khắp nơi.
Sau năm75, nó được đổi thành Long Châu Hà, tức Long Xuyên, Châu Ðốc và Hà Tiên. Nhưng chỉ vài năm sau, nghe không ổn nên đổi lại tên cũ là An Giang. Hiện nay, hai tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên kết hợp lại thành tỉnh An Giang.
CHÂU ÐỐC
Châu Ðốc là tỉnh biên giới Việt Miên, có nhiều nguồn lợi kinh tế tại Tân Châu, Hồng Ngự. Cũng vì sát với Miên, nên có nhiều người Miên hiền lành, theo đạo Phật, sanh sống, hài hòa với người Việt mình. Một sự hòa hợp tâm tình thế nào cũng xẩy ra giữa hai dân tộc. Theo nhà văn nữ Bút Trà thì sự hòa hợp dị chủng nầy tạo ra nhiều thiếu nữ duyên dáng đẹp đẽ kỳ lạ, nhứt là lai Việt-Miên-Tàu. Và đây:
Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh,
Gái nào bảnh bằng gái Tân Châu
Anh thương em chẳng ngại sang giàu
Mứt hồng đôi lượng, trà Tàu đôi cân.
Ngoài ra cũng có một số ít người Chàm sinh sống nơi đây. Họ họ theo đạo Hồi, rất hiền hòa, chuyên sống về nghề tầm tang, dệt tơ lụa đặc sắc, rất nổi tiếng vì được nhuộm bằng mặc nưa, lụa Tân Châu.Gái nào bảnh bằng gái Tân Châu
Anh thương em chẳng ngại sang giàu
Mứt hồng đôi lượng, trà Tàu đôi cân.
Châu Ðốc có vùng núi non hiểm trở, gồm bảy ngọn không cao, không lớn không hùng vĩ như dãy Trường Sơn như ta tưởng.
Tuy vậy Thất Sơn rất đẹp, vẻ đẹp nên thơ kỳ lạ. Ðẹp nhứt là lúc chiều tà, lúc mặt trời từ từ xuống, những tia ánh sáng vàng rực rở chiếu xuống, lơ thơ đó đây vài cây thốt lốt, lác đác đàn nhạn thơ thẩn bay về tổ, tạo nên bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ, không thua những bức tranh Tàu.
Tuy vậy vùng bảy núi lại rất hiểm trở, huyền bí linh thiêng, bởi nơi đây có nhiều am, đền, chùa chiền kỳ bí, tôn giáo lạ lùng, chánh đạo cũng như tà đạo như đạo bay. Người theo đạo bay tin là muốn bay được thì phải giết ít nhứt ba người. Vào thời 1950, lúc tranh tối, tranh sáng, có nhiều người bị chết oan uổng vì tín đồ đạo bay. Sự kiện nầy đã làm cho dân sống gần vùng Thất Sơn hoang mang không ít
Nói tới Thất Sơn (bảy núi) huyền hoặc là nói tới chém giết, bùa ngải làm ai cũng phải sợ. Tại sao, bởi vì xưa kia, hể ai trốn sâu lậu thuế, tù tội, nhứt là người làm cách mạng chống Pháp, cứ chạy lên đây trốn. Núi không cao nhưng có nhiều hang động dễ trốn khi Tây ruồng bố ráp. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ có dội bom, cả bom Napal cũng trớt quớt, không lọt vô hang được.
Bảy Núi là nơi ẩn trú của những tay anh hùng tứ xứ, trôi giạt về đây. Họ là thành phần phức tạp, tạp nhạp như trốn nợ, trốn thuế, giết người, ngoài vòng pháp luật. Họ cũng có thể là người thường dân, yêu quê hương đất nước, đứng lên chống cường hào ác bá phản quốc, nhứt là bọn Lang Sa thực dân hại dân, hại nước. Họ lẩn trốn vì bị chánh quyền truy nã.
Chim bay về núi tối rồi,
Sao không lo liệu còn ngồi chi đây?
Theo nhiều người kể lại thì đây có thể là lời Ðức Thầy Tây An báo cho họ biết là Tây ruồng bố đã đi rồi, hãy ra đi, mà cũng có thể là Đức Thầy nói rằng thời cơ đã tới rồi, hãy ra đi kháng chiến, đứng lên làm cách mạng cứu nước đi.Sao không lo liệu còn ngồi chi đây?
Ông chính là người chèo ghe, ngao du khắp nơi, rao giảng bằng ca dao, giả điên giả dại, khù khờ để dạy đời. Ông là nhà cách mạng lâu đời và cũng là người sáng lập ra Bửu Sơn Kỳ Hương (BSKH) năm 1848, lấy từ:
Bửu ngọc quân minh thiên Việt nguyệt
Sơn trung sư mạng địa Nam tiền
Kỳ niên trạng tải tân phục quốc.
Hương xuất trình sanh tạo nghiệp yên.
BSKH là tiền thân của Phật Giáo Hòa Hỏa (1939), lấy tứ ân làm giáo lý.Sơn trung sư mạng địa Nam tiền
Kỳ niên trạng tải tân phục quốc.
Hương xuất trình sanh tạo nghiệp yên.
Ân tổ tiên, cha mẹ,
Ân đất nước
Ân Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng)
Ân đồng bào nhân loại.
Vì ông quá tốt, nên được người đời kính trọng và tôn vinh ông là sư vải bán khoai hay là Phật sống, Ðức Thầy Tây An. Sau khi ông chết, người dân thương mến, tưởng nhớ công đức nên lập đền thờ Ðức Thầy Tây An ở Châu Ðốc.Ân đất nước
Ân Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng)
Ân đồng bào nhân loại.
Tên thật của Ðức Thầy Tây An là Ðàm Minh Huyền, nhưng hiện nay có nhiều giả thuyết của các nhà nhiên cứu, và cả ông Hồ Hữu Tường, cũng cho ông là Hoàng Tử Nguyễn Quang Mục, con của vua Quang Trung Nguyễn Huệ và công chúa Ngọc Hân, vì sợ bị vua Gia Long tìm giết, nên trốn vào Nam ẩn náu. (1)
Ðèn Châu Ðốc
Ca dao Châu Ðốc rất nhiều, nhưng thường hay lấy chủ đề đèn và dốc. Ðèn Châu Đốc được ví von qua:
Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,
Dốc nào thắp bằng dốc Nam Vang.
Ðèn nào cao bằng đèn Châu Ðốc
Ðất nào dốc bằng đất Nam Vang
Một tiếng anh than hai hàng lụy nhỏ
Em có chút mẹ già biết bỏ ai nuôi?
Anh đi Châu Ðốc Nam Vang,
Gởi thơ nhắn lại em khoan có chồng
Hò ơ ơ...
Đất nào lắm dốc nhiều đồi,
Đèn nào cao nhất moịngười đều nghe.
(Đất Nam Vang lắm dốc nhiều đồi,
Đèn cao Châu Đốc mọi người đều nghe.
Sở dĩ người ta nói đến Châu Ðốc cao là vùng nầy có vị thế cao hơn bình nguyên bởi dãy núi Thất Sơn. Ðã vậy mà còn dựng đuốc đốt lên cao, đương nhiên nó sẽ cao hơn bên Nam Vang. Ở đây đuốc được dựng lên giữa rừng núi là để ngắm đường thẳng mà đào kinh.Dốc nào thắp bằng dốc Nam Vang.
Ðèn nào cao bằng đèn Châu Ðốc
Ðất nào dốc bằng đất Nam Vang
Một tiếng anh than hai hàng lụy nhỏ
Em có chút mẹ già biết bỏ ai nuôi?
Anh đi Châu Ðốc Nam Vang,
Gởi thơ nhắn lại em khoan có chồng
Hò ơ ơ...
Đất nào lắm dốc nhiều đồi,
Đèn nào cao nhất moịngười đều nghe.
(Đất Nam Vang lắm dốc nhiều đồi,
Đèn cao Châu Đốc mọi người đều nghe.
Thời ông Thoại Ngọc Hầu và nội tướng của ông là bà Châu Thị Tế (bà Vĩnh Tế), ra sức đào con kinh nối liền Châu Ðốc với Vịnh Xiêm La và Hà Tiên, chớ đâu có máy ngắm để phóng đường như ngày nay. Vào thời đó vùng nầy còn hoang vu rừng rậm, thì làm sao mà phóng cho ngay thẳng được, nên ông cho đốt đuốc ban đêm để ngắm. Kinh được đào trong năm năm trời mới hoàn thành (1820 - 1824). Ðây là một kỳ công của Ông Bà Thoại Ngọc Hầu.

Bản Đồ Kinh Vĩnh Tế (Nguồn Vikipedia)
Kinh đào không những mang lại tiện nghi lưu thông bằng đường thủy hay bộ, vì đất đào bỏ lên đấp lộ, mà còn giúp việc phòng thủ biên thùy Việt - Miên. Cái chánh của nó là mang nước phù sa tưới lên đồng ruộng, rửa phèn chua cho lúa tươi xanh, vườn cây trái sum sê, mầu mỡ, đem lại biết bao nhiều huê lợi, cá tôm trù phú, giàu có cho dân lành.
Do công lao đó, vua Minh Mạng mới ban cho tên Kinh Thoại Ngọc Hầu sau đổi lại là Kinh Vĩnh Tế, tên của nội tướng của ông. Vì kinh đào là do công lớn của bà Thoại Ngọc Hầu, cho nên mới đổi sang tên bà cho nó công bằng. Câu nói ‘Của chồng công vợ’ theo đạo lý thời xưa có vẻ hơi bất công, mà phải là ‘của vợ công chồng’ như trường hợp của Bà Thoại Ngọc Hầu, mới đúng.
Và đây là bài vè của cụ Huy Vũ ghi lại công trình đào kinh Vĩnh Tế, như sau:
Chia ba người một thước,
Đào sâu xuống nước,
Hai thước sáu ba,
Bề ngang đào qua,
Là sáu thước chẵn,
Việc mần mệt nặng,
Kẻ cuốc người rinh,
Chừa hai bên kinh,
Đấp hai con lộ...
Đào sâu xuống nước,
Hai thước sáu ba,
Bề ngang đào qua,
Là sáu thước chẵn,
Việc mần mệt nặng,
Kẻ cuốc người rinh,
Chừa hai bên kinh,
Đấp hai con lộ...

Kinh Vĩnh Tế được chạm khắc trên một trong cửu đỉnh ở Thành Nội Huế (Nguồn Vikipedia)

Kênh Vĩnh Tế đoạn chạy qua thị xã Châu Đốc (An Giang)
Còn câu nầy:
Ðèn nào cao bằng đèn Châu Ðốc
Gió nào độc bằng gió Gò Công.
Sở dĩ gió Gò Công độc là vì tại đây có vùng đất trũng đầm lầy gọi là Rừng Sát. Rừng thiêng nước mặn, độc, ám khí, nước đọng, uống vào bụng báng mà chết? Thật ra đầm lầy nước đọng mặn, uống không được, là môi trường tốt cho muỗi sanh sôi nẩy nở, để gây bịnh sốt rét rừng. Người Pháp cho là ‘mal de l’air’ hay malaria.Gió nào độc bằng gió Gò Công.
Dòng sông Cửu Long chảy vô Biển Hồ, rồi tới Châu Ðốc chia thành hai nhánh sông, sông Tiền và sông Hậu. Người mình ở Tịnh Biên, Tân Châu vượt sông qua Nam Vang làm ăn, sinh sống ở Biển Hồ bằng nghề đánh cá. Cá lớn nhiều quá ăn không hết phải làm cá khô, làm cá mặn để dành. Ở lâu buồn nên họ lập gia đình sinh sống, cho nên có câu:
Biển Hồ cực lắm em ơi,
Ban đêm xẻ cá, ban ngày phơi khô.
Nam Vang đi dễ khó về,
Trai đi có vợ, gái về có con.
Còn ở Thất Sơn trời nắng nóng lắm nên da dẻ nó đậm đà:Ban đêm xẻ cá, ban ngày phơi khô.
Nam Vang đi dễ khó về,
Trai đi có vợ, gái về có con.
Thất Sơn bảy núi nằm kề,
Lúc đi thì trắng lúc về thì đen
Ðạo nghĩa vợ chồng khắn khít bên nhau, anh đi đâu em theo đó, dầu dãi đói no, ăn quán ngủ đình, còn hơn lẻ loi một mình:Lúc đi thì trắng lúc về thì đen
Ðèn nào cao bằng đèn Châu Ðốc,
Dốc nào thấp bằng dốc Nam Vang
Ðói no em chịu cùng chàng
Xuống sông ra biển lên ngàn cũng theo.
Nhớ nhung khi xa cách người yêuDốc nào thấp bằng dốc Nam Vang
Ðói no em chịu cùng chàng
Xuống sông ra biển lên ngàn cũng theo.
Ðèn nào cao bằng đèn Châu Ðốc
Dốc nào thấp bằng dốc Nam Vang
Thổi ngọn đông phong lạc vợ xa chồng
Ðêm nằm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi.
Chàng đi Châu Ðốc Nam Vang,
Nỗi sầu em chịu đa mang một mình!
Ðậu phọng béo đậu nành cũng béo
Bước lên xe kéo réo xe hơi,
Ðường đi Châu Ðốc xa vời
Gởi thơ thì khó, gởi lời cũng không.
Tri Tôn Châu Ðốc rất gần
Thương anh em nhớ, em lần xuống thăm.
Ngó lên Châu Ðốc,
Thấy gốc bần trôi
Ngó xuống Vàm Nao
Thấy sóng bủa lao xao
Anh thương em ruột thắt gan bào
Biết em có thương lại chút nào hay không?
Ðể nói lên tình mẫu tử bao la, rộng rãi lúc nào cũng sẳn sàn tha thứ; dầu con mình có làm chi sai trái cũng dang tay ôm con vào lòng, không chút ngại ngùng khó khăn. Cho nên có câu:Dốc nào thấp bằng dốc Nam Vang
Thổi ngọn đông phong lạc vợ xa chồng
Ðêm nằm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi.
Chàng đi Châu Ðốc Nam Vang,
Nỗi sầu em chịu đa mang một mình!
Ðậu phọng béo đậu nành cũng béo
Bước lên xe kéo réo xe hơi,
Ðường đi Châu Ðốc xa vời
Gởi thơ thì khó, gởi lời cũng không.
Tri Tôn Châu Ðốc rất gần
Thương anh em nhớ, em lần xuống thăm.
Ngó lên Châu Ðốc,
Thấy gốc bần trôi
Ngó xuống Vàm Nao
Thấy sóng bủa lao xao
Anh thương em ruột thắt gan bào
Biết em có thương lại chút nào hay không?
Cha mẹ thương con như Biển Hồ lai láng
Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày.
Ðặc sản của Châu ÐốcCon nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày.
Châu Ðốc có những món ăn nổi tiếng khắp vùng, không thể quên được là mắm ruột hoặc mắm thái ngon đáo để:
Mắm Châu Ðốc
Dốc Nam Vang.
Bánh tráng Mỹ Lồng
Bánh phồng Châu Ðốc.
Miếu Bà Chúa XứDốc Nam Vang.
Bánh tráng Mỹ Lồng
Bánh phồng Châu Ðốc.
Miếu Bà Chúa Xứ ở núi Sam rất linh thiêng, nên hằng năm vào ngày vía Bà, 23-24 tháng Tư Âm lịch, không biết bao nhiêu người tứ xứ tấp nập về đây cúng kiến, cầu xin tài lợi, công danh. Ngày vía Bà Chúa rất vui nhộn, có đồng bống tựu tập về biểu diễn, cúng kiến múa ca nhộn nhịp, khói nhang mù mịt. Miếu được xây dựng vào năm 1870. Ðến năm 1972 được tu bổ lại rất đồ sộ, mà vẫn không đủ cho số người đến chiêm bái.
Ðạo Hòa Hảo
Trước khi kết thúc đoạn Châu Ðốc, xin nói thêm chút về Ðạo Hòa Hảo. Khi tiếp nối sự nghiệp của Ðức Thầy Tây An, Ngài Huỳnh Phú Sổ mới dời về quê mình ở làng Hòa Hảo, Tân Châu và lấy tên là Phật giáo Hòa Hảo (1939). Ngài tiếp nối việc tu hành và chủ trương việc canh tân đạo pháp.

Miếu Bà Chúa Xứ ngày nay
Không tụng niệm, cúng bái.
Không giấy tiền vàng bạc để cúng lễ.
Nếu làm như vậy coi như hối lộ thần thánh. Bởi vì Ngài cho:Phật tại tâm chớ đâu mà tìm.
Và
Ðời không đạo, đời vô liêm sĩ,
Ðạo không đời, đạo biết dạy ai
Tuy hồi nhỏ Ngài học ít, nhưng có tâm đạo rất tốt, trí tuệ minh mẫn, như có quới nhơn cùng thánh nhân siêu nhập, nên hể mở miệng ra là văn thơ lưu loát, ngụ đầy ý nghĩa thanh cao, thâm sâu nên chỉ một sớm một chiều mà cả hai triệu đồng bào Miền Tây, nhứt là vùng Châu Ðốc Long Xuyên theo đạo Phật Giáo Hòa Hảo.Ðạo không đời, đạo biết dạy ai
Cũng vì đạo Hòa Hảo chủ trương lấy tứ ân làm trọng và 21/9/46 Ngài thành lập đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Ðảng, gọi tắt thành Dân Xã Ðảng để lồng chính trị hóa vào lòng nhân dân hầu phục vụ nước nhà. Như vậy Ngài chủ trương đấu tranh lồng trong đạo pháp dễ thu hút nhân tình. Các tín đồ kỳ cựu điều thuộc nằm lòng mấy câu sau đây:
Tuốt gươm vàng lên ngựa xong pha,
Ðền xong nợ nước thù nhà
Thiên môn trở lại Phật đà Nam Mô.
Hay Ðền xong nợ nước thù nhà
Thiên môn trở lại Phật đà Nam Mô.
Tu đền nợ nước cho rồi,
Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen
Long XuyênThì sau mới được đứng ngồi tòa sen
Cả Miền Nam nằm trong biển lửa, không ít thì nhiều đâu đâu cũng có súng nổ, chỉ riêng Long Xuyên là không hề có dấu vết chiến tranh tàn phá, kể luôn Tết Mậu thân 1968. Thật là kỳ diệu!
Tại sao, bởi vì Mười Trí, sư thúc (?) của Ðức Thầy đem quân từ Cao Lãnh tấn công 7 ngày đêm không vô được Long Xuyên.
Long Xuyên trù phú, sạch sẽ nhứt các vùng khác vì nó có dòng sông An Giang uốn khúc qua đồi núi, tưới chất phù sa mầu mỡ cho ruộng vườn tươi xanh, tô điểm thêm vẻ đẹp mỹ miều, huyền ảo. Nó đã cảm hóa thi nhân, nhạc sĩ Anh Việt Thu tạo nên khúc nhạc tuyệt vời: ‘Dòng An Giang’ để đời!
Long Xuyên trù phú, cá tôm đầy sông, rạch, ruộng vườn (Muốn biết thêm xin xem bài ‘An Giang trong tim tôi’, Tuyển tập PGS I, tr 297-305):
Ba phen quạ nói với diều,
(Có chỗ ‘Chiều chiều quạ nói với diều)
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm.
Cù lao Ông Chưởng là một trong những cù lao lớn của Long Xuyên.(Có chỗ ‘Chiều chiều quạ nói với diều)
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm.
Cứ vào tháng Mười, mùa cá dại, tha hồ mà vớt cá dưới sông. Chỉ cần bơi xuồng ba lá ra sông, lấy vợt mà vớt lá linh, cá rói, cá lòng tong từ sáng tới chiều cũng có vài vạ cá. Cá bắt được đem về gài mắm, làm nước mắm nhỉ để ăn quanh năm, không tốn đồng nào hết. Ruộng vườn làm bằng máy cày, máy đập, nhà nhà đều có TV, máy đuôi tôm, đủ thấy sự giàu sang của Long Xuyên.
Tại sao kêu là cù lao Ông Chưởng?
Bởi vì chính nơi đây, dòng sông Cửu Long có nhiều cồn nổi lên, lát và cây bần mộc lên, chất phù sa vung bồi thành cù lao, dân chúng tụ tập, đến sinh sống, lập nhiệp.
Thân em như trái bần trôi
Sóng dập gió dồi biết tấp về đâu?
Nhưng cũng có khi tán gia bại sản, chết chốc bởi lở cồn như cồn nhỏ ngang sân quần vợt và trại hải quân Long Xuyên được bồi đấp rộng ra trước 75, nhưng đã tan biến mất sau 1975: Ðất bồi rồi lại lở ‘Biển dâu’ là vậy.Sóng dập gió dồi biết tấp về đâu?
Sau khi quân Chúa Nguyễn đem quân giúp vua Miên dẹp loạn trở về, nghỉ dưỡng quân trên cù lao bỗng bị nạn dịch. Trong số nầy có phó tướng của Thoại Ngọc Hầu là Chưởng Binh Lễ. Nhưng vì kị húy, nên chỉ gọi là ông Chưởng.
Chuyện tình cảm nam nữ
Trai nhân ái, gái Long Xuyên.
Thà rằng chẳng biết cho cam.
Biết rồi kẻ Bắc người Nam thêm rầu.
Thôi thì chàng hãy cùng thiếp về quê em đi, có gì ăn nấy, nghèo mà thắm đặm tình quêThà rằng chẳng biết cho cam.
Biết rồi kẻ Bắc người Nam thêm rầu.
Chàng ơi theo thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh.
Ðể rồi cùng cùng chung vui trong cảnh nghèo đạm bạcĂn bông bí luộc dưa hường nấu canh.
Râu tôm nấu với canh bầu
Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon.
Canh bầu nấu với mùng tơi
Húp vô một miếng, anh ơi em nè!
Dại gáiChồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon.
Canh bầu nấu với mùng tơi
Húp vô một miếng, anh ơi em nè!
Anh muốn về Long An Vàm Cỏ,
Mấy lời em tỏ nhỏ, anh bỏ không đành
Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành
Núi kia hết đá anh mới đành xa em.
(Núi ở đây là núi Sập)
Anh thấy em nhỏ lại có hường nhan, Chân mày em loan, con mắt em phụng Anh đi lục tỉnh vậy mà ưng bụng chỉ có mình em.
Thương cha thương mẹ có khi Thương lúc dứng, lúc đi, lúc ngồi. Thương cha thương mẹ có hồi, Thương em lúc đứng, lúc ngồi cũng thương. Anh ra đi, cha đánh, mẹ rầy
Không đi thì sợ dưới nầy bậu trông. Ra đi lội suối băng sông, Tới đây nuôi bậu, lòng không muốn về.
Chiếc chiếu treo là ngải, Chiếc chiếu trải là tình Thiên minh minh, địa cũng minh minh Họ xa lệ họ, hai đứa mình đừng xa.
Trong những ngày bôn ba vùng sông nước Cửu Long, chúa Nguyễn Ánh đã từng khen ngợi dòng sông xinh đẹp An Giang, và đã từng sinh sống nơi đây nên Ngài cũng từng nếm hương vị đồng quê đạm bạc nơi nầy. Cho nên mới có câu:Anh thấy em nhỏ lại có hường nhan, Chân mày em loan, con mắt em phụng Anh đi lục tỉnh vậy mà ưng bụng chỉ có mình em.
Thương cha thương mẹ có khi Thương lúc dứng, lúc đi, lúc ngồi. Thương cha thương mẹ có hồi, Thương em lúc đứng, lúc ngồi cũng thương. Anh ra đi, cha đánh, mẹ rầy
Không đi thì sợ dưới nầy bậu trông. Ra đi lội suối băng sông, Tới đây nuôi bậu, lòng không muốn về.
Chiếc chiếu treo là ngải, Chiếc chiếu trải là tình Thiên minh minh, địa cũng minh minh Họ xa lệ họ, hai đứa mình đừng xa.
Ðiên điển đem nấu canh chua
Thêm cập cá nướng đến vua cũng thèm
Ở miệt chợ Vãng (Vĩnh Long), chúng tôi không biết ăn bông điên điển chỉ biết ăn canh chua tôm bông xua đũa, rất ư là tuyệt. Chỉ miệt Long Xuyên, Ðồng Tháp, Sa Ðéc mới ăn bông điên điển cũng rất ngon, mà ít đắng hơn bông xua đũa. Nhờ vậy mới quen nước quen cái, theo nàng về quê chứ!Thêm cập cá nướng đến vua cũng thèm
Lúc còn nhỏ khi thấy cây điên điển là tôi ghét, và có ý nghĩ xấu, bơỉ vì chỗ nào có nó là đất xấu, làm ruộng không trúng mùa. Tôi tưởng đúng, thật ra là sai. Vì chặt cây điên điển đi, rễ nó mục rả ra nhanh lắm, làm phân rất tốt cho loại đất hết mầu mỡ nầy.
An Giang có rất nhiều nhân tài trong đó ông Nguyễn Ngọc Thơ, làm Phó Tổng Thống dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Trung Tướng Lê Quang Vinh, tức ba Vinh, hoặc Tướng Ba Cụt
Chú thích
(1) Ðặng Minh Quân: Bửu Sơn Kỳ Hương, Nghiên Cứu Văn hóa ÐNCL số 6, trang 114
Những Bài Viết Khác










































